Phật Học‎ > ‎Kinh‎ > ‎

Kinh Tân Tuế

PHẬT NÓI

KINH TÂN TUẾ[1]

- Ngài Đàm-Vô-Lan dịch chữ Phạm ra chữ Hán.

- Thích-Tâm-Châu dịch chữ Hán ra chữ Việt.

 

          Chính tôi được nghe: Một thời kia đức Phật ở trong vườn, cây của ông Kỳ-Đà và ông Cấp-Cô-Độc, nước Xá-Vệ, cùng với chúng Đại-Tỳ-Khưu tám vạn bốn nghìn người, như ngài Xá-Lỵ-Phất, Ngài Mục-Kiền-Liên v.v...

          Các vị vây quanh trước, sau Phật, nghe Phật thuyết kinh. Mà đức Phật ở trong đại-hội cũng như núi Tu-Di, là núi đứng đầu các núi, một mình cao vót và hiển-lộ; như mặt trăng tròn sáng, soi khắp mọi ngôi sao, nhưng, chỉ có ánh uy-quang của mặt trăng là hơn cả và cũng như tia sáng vàng tía ở nơi đạo-tràng, soi khắp đều thành sắc vàng; hơn hết, sắc ấy lạ-lùng đặc biệt, rực-rỡ chói-lọi không có gì sánh bằng.

          Thời gian ấy, đức Thế-Tôn cùng chúng Tỳ-Khưu, thanh-tịnh vô-lượng; như mặt trời, như áng mây, trọn đủ ba tháng cho đến ngày của năm mới, các vị Tỳ- Khưu im lặng, nhẹ nhàng, nhất tâm tự tư-niệm đạo, an định, không tưởng gì khác. Khi ấy, Hiền-Giả A-Nan, liền từ tòa mình ngồi đứng dậy, chễ áo cánh tay hữu, gối hữu để xuống đất, quỳ dài, chắp tay và trước tiên tự quay về nơi Phật-túc, làm bài kệ tán-thán rằng:

Phật-Tôn sở dĩ lại,

Qua đây để tế-hộ;

Ba tháng ở nơi này,

Vườn Cô-Độc, Kỳ-thụ.

Sở-nguyện hầu đầy-đủ,

Nay, thực chính là thời;

Đạo-sư Vô-thượng-tôn,

Sẽ tuyên-bố "năm mới."

          Bấy giờ đức Thế-Tôn nghe ngài A-Nan nói bài kệ tán-tụng rồi, đấng Chí-Chân ngồi im lặng một mặt, bảo Hiền-Giả Đại-Mục-Kiền-Liên: Ông nên đến những hang núi u-nhàn, nhà đá non cao trong ba nghìn đại thiên thế-giới, lên tiếng bảo tất cả các vị Tỳ-Khưu mới tiến, cựu học cùng những vị chưa giác-ngộ..., đều khiến các vị ấy lại hội-họp ở nơi Kỳ-thụ này. Tại sao? - Như-Lai đến lúc muốn tuyên-lập về năm mới. Lúc đó, Ngài Đại-Mục-Kiền-Liên, rướn mình lên hư-không, theo Thánh-chỉ của Phật, phát ra tiếng to lớn, bảo các vị Tỳ-Khưu trong ba nghìn đại-thiên thế-giới. Trong tiếng vang lớn ấy, tự nhiên diễn ra bài kệ tụng rằng:

Các Nhân-giả khắp nơi,

Rừng rú cùng núi đá;

Năm mới, thời đã đến,

Tâm sở-nguyện sẽ thành.

          Bấy giờ, các vị Tỳ-Khưu đương ở nơi du-hóa trong ba nghìn đại-thiên thế-giới, nghe thấy bài kệ thông cáo ấy, ai nấy đều dùng phép Thần-túc trong mọi phương-tiện, biến-hiện thân mình, đến vườn Kỳ-thụ và đi đến chốn Phật, chịu sự tuyên-lập về năm mới của Phật. Tính ra, các đệ-tử hợp-tập bên Phật, đều từ phương thổ xa lạ lại, cùng nhau nhất thời đều họp cả lại gồm có tám mươi vạn bốn nghìn ức cai[2] người, muốn chịu tuổi năm mới.

          Khi ấy đức Thế-Tôn bảo Hiền-Giả A-Nan: Ông đi đánh kiền-trùy, nay thời đã đến. Ngài A-Nan lĩnh thụ lời Phật dạy, liền từ tòa mình ngồi đứng dậy, đến chỗ đánh kiền-trùy. Đánh lên, tiếng kiền-trùy vang khắp cõi Phật; trong nước lớn của mỗi đức Phật, nơi địa-ngục, ngã-quỷ, súc-sinh, nghe thấy tiếng kiền-trùy, nhờ uy-thần Phật, hết thảy mọi bệnh khổ-độc đều khỏi và đều được yên-ổn.

          Bấy giờ, đức Phật dùng Tịnh-Phạm-âm, bảo các vị Tỳ-Khưu rằng: "Các vị nên đứng dậy, lấy thẻ điểm số xem được bao nhiêu (hành Xá-La trù). Các vị nên đối với nhau hối quá tự trách. Các vị nên cùng nhau tạ mọi lỗi phạm phi-pháp và đều nên nhẫn-nhục hòa đồng với nhau, cho sạch ba nghiệp: thân, khẩu, tâm, không còn nhơ-nhớp gì nữa!"

          Lúc đó, các vị Tỳ-Khưu lĩnh thụ lời Phật dạy, liền đều cùng nhau từ tòa ngồi của mình đứng dậy, trước đức Thế-Tôn, đều cùng tạ nhau và sám-hối những điều lỗi-lầm. Xong rồi, lại trở về ngôi nơi bản-vị.

            Đức Phật thấy chúng đều về bản-vị cả rồi, đức Phật rủ lòng thương-xót, nhân từ tòa ngồi của Ngài đứng dậy, tự mình chắp tay, hướng vào các vị Tỳ-Khưu mà nói rằng: "Các vị Tỳ-Khưu! Các vị nên hòa tâm hướng vào nhau, hướng vào các vị mà hối lỗi. Tại sao ? - Vì, nghiệp thân, nghiệp khẩu, nghiệp ý của ta thảng hoặc có lúc ngang-trái, lầm lẫn với nhau chăng? Như-Lai Vô-thượng-tôn Chí-chân, không còn có nghiệp lầm-lẫn, thiếu-sót, tâm không phóng-dật, không mất trí tuệ, không tham-mộ gì và không hủy giới cấm. Với, trong những vị Thanh-Văn, Duyên-Giác, là bực Tôn-đức rất lớn trong ba cõi, vượt trên chư Thiên, thế-gian, nhân-dân, không ai có thể sánh bằng được. Lại, các vị Tỳ-Khưu, như trong dòng họ xuất-gia, học đạo, tu pháp Sa-môn, tâm tính đều khác, chí-khí, tiết-tháo bất đồng, trong Phật nghiệp này, cần nên thi-hành và nên vâng lời dạy răn không được trái phạm. Tại sao? - Nếu có vị Tỳ-Khưu nào ở trong Thánh-chúng, kiến-lập năm mới mà thân hạnh đều khác, tâm-niệm chẳng đồng, mang lòng nịnh hót, thời kể vị Tỳ-Khưu kia, không chịu đường chân-chính, không phải là Cụ-giới. Tại sao?- Vì, thân, khẩu, ý sạch, là thiện-chân-chính. Thụ-giới Cụ Túc của Phật, tâm hằng kính nhường, thuận thượng trung, hạ, không làm sự khinh-mạn, dông-dỡ; biết thẹn-hổ nhún lòng, mới hợp pháp-giới. Tại sao? - Vì người làm như thế, không có oán-ghét, không vì kết-hận, xét pháp xưa, nay, không có rối-loạn; kiến-lập năm mới cũng không có tâm giận tức, tự-đại. Tại sao? - Vì giới-cấm thanh-tịnh, tạo-lập ra năm mới, kiến-lập tối-đại-giới; không thanh-tịnh chẳng phải là đệ-tử Phật. Cũng như thây hình người chết để dưới đất, bỏ nơi mồ mả, chư Thiên, nhân-dân trong thiên thượng thế-gian, đều mang những thuốc tốt, hoặc Thần-chú, hảo-thuật lại, thương-xót chữa cho họ, cũng không thể làm cho họ sống lại được. Như thế, Tỳ-Khưu hủy-phạm giới-cấm, chính khiến họ vào trong chúng, được bao năm mới rồi, cũng không thể tự cứu, để kiến-thành năm mới được. Tại sao?- Vì người ấy hủy giới, hội quy tự nhiên, nhân ấy quay về chịu báo khổ-độc, chua xót, vất-vả vô lượng trong địa-ngục, ngã-quỷ, súc-sinh. Các vị nên siêng-năng, cẩn-thận!"

          Đức Phật nói pháp ấy rồi, liền từ tòa đứng dậy, ra ngoài nệm cỏ. Tức thì ba nghìn đại thiên thế-giới, sáu phen chấn-động, đàn không-hầu, đồ kỹ nhạc, không đánh tự-nhiên kêu; chư Thiên trên không, tung những thứ danh-hương, rải các thứ hoa sặc-sỡ xuống.

          Khi đức Phật nói phẩm giới-pháp ấy, bảo các vị Tỳ-Khưu, thời các vị Tỳ-Khưu, đều ngồi nơi bản-vị, nhờ uy-thần Thánh-chỉ về sự giáo-hối của Phật, công-huân sáng-suốt, soi sáng khắp cả, đều tự lập lên, tâm không vui-thích ở nơi thường ngồi như ghềnh núi, gốc cây, chỉ là tham-dục; mà đều từ tòa mình ngồi đứng dậy, cúi đầu lễ dưới chân Phật, miệng tự bạch rằng: "Hết thảy mọi pháp, đều từ nơi Phật mà lĩnh thụ; phép chính, gốc đạo, vì giúp hết thảy; con mắt từ-mẫn, tôn quý lạ-lùng; Thánh-đức vô thượng, siêu tuyệt chi bằng, nguy-nguy, đường-đường, tuyên-bố đạo-hóa." Bấy giờ Như-Lai, dời nơi Tôn-vị, sám-tạ Thánh-chúng, thương-xót thiên-hạ, lại về nệm cỏ Phật ngồi lại rồi, Thánh-chúng cũng thế, đều về ngôi cũ, như pháp ngồi lại.

          Lúc đó, đức Thế-Tôn thấy thời của năm mới đã đến, mẫn-niệm đến mọi người trong hội, Ngài ở trước các vị Tỳ-Khưu, ba lần tuyên-bạch về năm mới xong. Sau khi kiến lập năm mới rồi, năm vị Tỳ-Khưu từ tòa mình ngồi đứng dậy, để kiến-lập năm mới. Vừa kiến-lập năm mới, một vạn vị Tỳ-Khưu, được thành đạo-tích, tám nghìn vị Tỳ-Khưu được quả A-La-Hán; tám vạn bốn nghìn chư Thiên nơi hư-không, đều thấy sự khai-hóa, đều phát đạo-ý vô thượng chính-chân, giảng-thuyết kinh-pháp, không kể số được, những loài chúng-sinh kiến lập Tam-thừa, nay đức Phật từ-bi thương-xót, tạm khuất ngôi Chí-tôn, ngồi ở trong chúng, độ thoát nguy-ách, mười phương nhờ ơn tế-độ.

          Cùng khi ấy, Nan-Đầu-Hòa-Nan Long-Vương... đều xả nơi mình ở, mang theo trạch-hương, chiên-đàn tạp-hương... đến chốn đức Phật và đến nơi đạo-tràng kiến-lập năm mới, đỉnh lễ đức Phật, cùng chư Thánh-chúng. Long-Vương cúi đầu sát dưới chân, đem chiên-đàn tạp-hương, cúng-dường Phật cùng các Tỳ-Khưu Tăng và làm bài kệ thán tụng rằng:

Vị ngồi trên ghềnh núi,

Hoặc ngồi dưới bóng cây;

Hoặc qua trên biển cả,

Mang lòng ít sân-hận.

Lại, kiến lập năm mới,

Ức tải chúng-sinh họp

Đều cúng-dường lên Phật,

Được thành Cam-Lộ môn.

            Và, cũng lúc ấy, Hải-Long-Vương mang ngọc Xích-trân châu, hóa làm lá chàng Giao-lộ-các rất đẹp, dài, rộng bốn trăm dậm, lấy ngọc Lưu-ly xanh tía, dát lại với nhau mà thành. Tay ông mang giữ, đi trong hư không. Từ Giao-Lộ-Các ra khỏi Long-cung, nước ao Bát-vị (tám mùi), tuôn chảy rưới đất, để cúng-dường Như-Lai cùng chúng Tỳ-Khưu. Đem lá chàng Giao-Lộ-Các cống hiến lên bậc Đại-Thánh cùng các vị Tỳ-Khưu Tăng. Đem ngọc Anh-lạc rải cúng trên Phật cùng chư Thánh chúng. Cúng rồi liền nói bài kệ rằng:

Thanh tịnh như hư-không,

Như nhất, tự nhiên không;

Giới cấm rất thanh-tịnh,

Quý hơn Diệu-minh-châu.

Không biết bao nhiêu chúng,

Ngồi trong đại-hội này;

Đều cúng-dường an-trụ,

Cùng mọi Thanh-Văn chúng.

            Bấy giờ, chư Bồ-Tát, Thiên, Long, Thần-vương ở mười phương, đều từ mười phương lại hội-họp, hóa làm không biết bao nhiêu những đồ cúng lạ-lùng, cúng-dường đức Thế-Tôn cùng chúng Tỳ-Khưu; cúi đầu quy-mệnh, lĩnh-thụ lời dạy trong kinh-điển. Tất cả đều như thế, bình-đẳng không khác, đều lại cúi đầu quy-mệnh, và đều phát ra đạo-ý Vô-thượng chính-chân. Khi ấy, Thiên, Nhân thảy đều phát tâm, cúng-dường Thế-Tôn cùng chư Thánh-Chúng, đọc bài kệ tán-thán rằng:

Tâm Ngài đã thanh-tịnh,

Đệ nhất không nghĩ, bàn;

Thánh-chúng tối tôn-trưởng,

Ngồi ngay trong hội này.

Bỏ lìa hết thảy tưởng,

Khéo trừ mọi cấu-uế;

Ngày nay dâng cúng-dường,

Nơi kính không thể bàn,

Khai-hóa, mọi nạn thường,

Hết thảy mọi trần-lao;

Giới cấm ấy thanh-tịnh,

Như ngọc báu Minh-nguyệt.

Tâm thường suy-nghĩ chính,

Dứt mọi buộc sân-hận;

Ngày nay Ly-cấu-tôn,

Hội-họp lập năm mới.

Răn tâm khó điều-hóa,

Tuân hành như Thái-sơn;

Tiêu ngại pháp thường làm,

Phật an-lập năm mới.

            Sau khi chư Thiên-nhân nói bài kệ ấy rồi, cúi đầu lễ dưới chân Phật, bỗng nhiên không thấy hiện nữa, mọi người đều về cung mình ở và đều sung sướng lấy Phật pháp làm vui. Bấy giờ đức Thế-Tôn hiển-lộ làm không-khí mát-dịu lạ-lùng, cùng mọi báu xen bày, che rợp Thánh-chúng và Ngài liền nói bài kệ này:

Giới ấy rất thanh-tịnh,

Chỗ làm rất khó kịp;

Ngày nay vui mừng cúng.

Che khắp lập năm mới.

Dâng lên người an-trụ,

Hộ giới rất thanh-tịnh;

Như chim Hát mến lông,

Uy Phật giúp năm mới.

            Đức Phật bảo các vị Tỳ-Khưu: "Nay, Phật, Thế-Tôn, tuy năm mới này một năm có một lần hội, song, các vị cần tu-hành theo đúng pháp-tắc, thanh-tịnh giúp đạo, nghiêm trì ba việc: thân, khẩu, ý không nhơ nhớp, vâng làm mười điều thiện (không sát sinh, không trộm-cắp, không tà dâm, không nói dối, không nói thêu dệt, không nói hai lưỡi, không ác khẩu, không tham, không sân, không si), bốn tâm bình-đẳng (từ, bi, hỷ, xả), sáu phép độ (bố-thí, trì-giới, nhẫn-nhục, tinh-tiến, thiền- định, trí-tuệ) và bỏ sạch sáu tình (tức 6 căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý sinh ra tình-thức), ba độc (tham, sân, si), năm thứ ngăn che (sắc, thụ, tưởng, hành, thức) mười hai mối khiên-liên (tức 12 nhân-duyên: vô minh, hành, thức, danh sắc, lục nhập, xúc, thụ, ái, thủ,  hữu, sinh, lão tử.), làm sao trong sạch như mặt trời soi khắp thiên-hạ, ánh sáng chiếu-diệu, mọi tối tiêu tan, vào nẻo đạo-minh Vô-thượng chính-chân, hết thảy hòa-đồng, khổ, vui không hai, mới hợp đạo-pháp." Liền đó, đức Phật nói bài tụng rằng:

Chư Phật ra đời, vui,

Nói kinh-pháp cũng vui;

Thánh-chúng hòa đồng, vui,

Hòa, thường được an vui.

          Đức Phật nói như thế, các chúng Tỳ-Khưu, chư Thiên, Long, Quỷ-thần, A-Tu-Luân, thế-gian nhân-dân, nghe đức Phật nói không ai là không hoan-hỷ, làm lễ mà lui.

 



[1] Kinh này là cuốn kinh số 62 trong Đại-Tạng-kinh. Tân tuế là "năm mới".

[2] 10 triệu là một kinh, 10 kinh là một cai.