Văn Học‎ > ‎Thi Kệ‎ > ‎

Cánh Hoa Tâm

CÁNH HOA TÂM


Bạn đọc thân mến,

Hôm nay tôi cho ấn-hành tập thơ nhỏ, mang tên là Cánh Hoa Tâm.

Cánh Hoa Tâm, gọi là thơ, thực ra chưa dám. Đây chỉ là những lời tự nhiên, mộc mạc trong nếp sống tương chao, được phát xuất trong cơ cảm của tâm thức và được ghi lại, thêm vui cho cuộc sống.

Thưởng thức tinh-hoa của tiền-nhân, tôi mạo muội phỏng dịch một số bài thơ của Tuệ-Trung Thượng-Sĩ theo thể văn lục bát, thấm nhuần thêm hương vị xuất-nhập-thế hay tự lợi, lợi tha của thiền-phái Trúc-Lâm Yên-Tử. Phần này cũng lưu lại trong đây.

Cả hai phần trong quyển sách, được các bạn nhìn tới, tuy không hay ho lắm, nó có thể giúp các bạn được giây phút thêm vui trong cuộc sống và thân tâm thêm an tịnh.

Trân trọng kính chào và cảm ơn các bạn.

 

Tổ-Đình Từ-Quang,

Montreal, ngày 02 tháng 11 năm 2001

THÍCH-TÂM-CHÂU

 

 

TÂM ẢNH

Những lời tự nhiên được phát xuất tự đáy nguồn suy tưởng qua hình bóng của tâm-thức.

 

CÁNH HOA TÂM

 

1.- SỰ VẬT NHƯ NHIÊN

 

Trời vẫn xanh xanh, mây vẫn trôi,

Chờn vờn hoa nắng lượn ven đồi.

Rung rinh cánh gió ru hồn nhạc,

Róc rách nguồn khe nước chảy xuôi.

 

Rực rỡ muôn hoa lộ thắm tươi,

Truyền thông nhựa sống mạnh cho đời.

Đổi thay cây lá xanh, hồng, tím,

Lành lạnh tùng xanh đón tuyết rơi.

 

Chim chíp thanh không én liệng bay,

Im im trăng nước mặc vơi đầy.

Nghiêng nghiêng vách đá chào sương gió,

Lẳng lặng trời Đông ngả bóng Tây.

 

Bát ngát hoa dâng gió thoảng hương,

Lâng lâng sao trải rộng canh trường.

Đìu hiu thiêm thiếp đời hoa mộng,

Rộn rã thanh âm khắp nẻo đường.

 

Bàng bạc thời gian, giây phút thôi,

Mông mênh sa-giới, một chân trời.

Dềnh dàng hiện hữu, ly ty điểm,

Tịch tĩnh chân tâm thể rạng ngời.

 

Pháp-tính bản lai vượt có, không,

Như nhiên sự vật thể tương đồng.

Thăng hoa bừng sáng, vô phân biệt,

Trăng nước, mây trời một tính chung.

Tu-Viện Thanh-Quang: 19-06-2001

 

2.- XUÂN NHƯ-TẠI

 

Mặc vận-chuyển, xuân đi, xuân lại lại,

Dù doanh, hư, tiêu, trưởng (1) vẫn như thường.

Âm vô ngôn, chung điệu nhạc muôn phương,

Mầm ẩn hiện dệt hồn xuân như-tại.

 

Lòng gió chuyển kinh qua thiên vạn tải,

Hư không tràn thanh-khí ngợp chân-không.

Mây xa xưa vẫn thanh-thản trập-trùng,

Trăng Viên-Giác vẫn là trăng muôn thuở.

 

Tràn pháp-giới ánh linh-quang rực rỡ,

Chim thênh-thang, hoa bướm rộn ràng tươi.

Non xanh xanh bất động, ngút chân trời,

Biển bát-ngát, một mùi (2) không giới hạn.

 

Nước vẫn ướt tự đáy nguồn vô tận,

Sóng gầm vang, thể-tính vẫn thường như.

Ánh dương hồng hơi ấm hệt ban sơ,

Sao lấp-lánh trên màn tơ xanh thẳm.

 

Nhịp bước nhẹ in dấu chân lẫm-chẫm,

Tóc phơ màu, run gọi bóng thời-gian.

Rằng vinh-hoa, phú-quý trộn cơ-hàn,

Xưa, sau mãi vẫn một nguồn sinh-lực.

 

Hoa-tạng-giới trùng trùng vô cùng cực,

Luồng tâm-tư vi-tế bản-nhiên hoài.

Lầm sự-vật làm chi thêm bải-hoải,

Xuân là xuân trong tự-tại như-như!

 

(1) Sự vật luôn luôn trong trạng-thái: đầy, vơi, mòn, nở.

(2) Nước biển có một vị mặn, đạo Phật có một vị giải-thoát.

 

3.- GIẤC MỘNG PHÙ-SINH

 

Giấc mộng phù-sinh vẫn thế thôi,

Nhục, vinh, thành, bại mặc cho đời.

Lòng trong, ôm ấp đời và đạo,

Cùng với thiên-nhiên nở nụ cười.

Xuân Canh-Thình: 10-02-2000

 

4.- LẼ SỐNG GIAO HÒA

Mừng lễ mãn khóa Thái-Cực-Thiền

tại chùa Phật-Quang, Úc: 20-11-1998

 

Trăng huyền-diệu, soi màn đêm huyền-diệu,

Nắng vàng tươi chen kẽ lá xanh tươi.

Mây lững lờ dìu cánh gió chơi vơi,

Nguồn nước tịnh thấm nhuần trong mạch sống.

 

Trời cao lồng lộng,

Biển rộng mênh mông,

Núi non trập-trùng,

Hoa cỏ thung-dung,

Cùng reo vui,

Trong pháp-tính vô cùng.

 

Sắc, tâm ẩn trong mầm duyên muôn thuở,

Ảnh tu-di, vi-vật, vẫn dung-thông.

Vượt thoát khỏi thời, không-gian xa rộng,

Sống giao-hòa trong lẽ sống như nhiên.

 

Trí-tuệ an vui, vợi bớt ưu-phiền,

Biết tôi luyện sắc, tâm như một.

 

Từng nhịp thở ra vào sâu suốt,

Từng hành-vi, ý nghĩ sáng trong.

Ngọn gió đời rung chuyển tựa hư-không,

Tâm vô lượng khắp cùng bao lợi lạc.

 

Thoải mái chèo, đưa thuyền về bến Giác,

Ngát hương thơm trong ý-niệm lợi tha.

Biết vô thường, vô ngã, khổ trong ta,

Biết “tỉnh thức” để hoàn-thành sự-nghiệp.

 

Quá, hiện, vị-lai vô số kiếp,

Nằm trong giây chánh-niệm của giờ đây!

 

5.- MỪNG CHÙA PHẬT-ĐÀ

 

Mười mấy năm trường nối gót xưa,

Chung lòng mua đất dựng nên chùa.

Tuy chưa tráng-lệ như bao cảnh,

Đem lại an vui thỏa ước mơ.

 

Cùng cảnh tha phương lắm não phiền,

Hướng tâm từ-ái góp nhân duyên.

Giữ gìn đạo giáo, nền văn hóa,

Giúp đỡ đồng hương lúc ngả nghiêng.

 

“Kính lão” gương xưa cố gắng theo,

Mái nhà an-tịnh buổi thu chiều.

Khánh thành vui đẹp lòng bô-lão,

Bù lại ngày qua tiếng ỉ-eo!

 

Hy vọng tương-lai tiến-triển nhiều,

Chùa sang, cảnh đẹp, thuận muôn chiều.

Tiếng chuông vang vọng niềm an-lạc,

Ghi lại nơi đây dấu Việt-kiều.

Brisbane: 19-12-1993

 

6.- NHẮN NHỦ ĐỒNG BÀO, PHẬT-TỬ

 

Nghiệp-vận nên ta phải lánh quê,

Đạo-tình, nhân-nghĩa trọn muôn bề.

Nước non gấm vóc đâu xao lãng!

Đạo-pháp cao siêu dám bỏ bê!

Tương ái, tương thân, chung đóng góp,

Tham danh, tham lợi, quyết không hề!

Một lòng vì nước, vì tôn-giáo,

Vinh-dự Việt-Nam rạng biển đề!

Phật-Quang, Úc-châu: 1-1-1994

 

7.- PHẬT-QUANG BỪNG SÁNG

 

Bảy năm trọn, chùa Phật-Quang sáng khởi,

Buồn, vui đầy, chí-nguyện vẫn thăng hoa.

Lòng nhủ lòng, nương theo bóng Phật-Đà,

Như đại-địa, ươm phước-duyên tăng-trưởng.

 

Lý-tưởng,

Tình người,

Hương bay,

Nhịp tụng,

Gió mát,

Trăng thanh,

Hoa chào,

Chim hót,

Thúc giục người con Phật vững đi lên.

 

Tường đỏ bông sen,

Non xanh nước lượn.

Chuông rền cạnh gió,

Bảng hiệu trong đèn.

Nét đơn giản trong cảnh duyên an-tịnh,

Lồng trong lòng một sức sống vô biên.

 

Cảnh tu-viện đang nhịp-nhàng thực-hiện,

Mộng hoa-viên đang tiếp đá, thêm cây.

Hồn Việt-Nam sâu đậm nét nơi đây,

Đạo Phật Việt bao năm thêm sáng tỏ.

 

Hoa hy vọng trong vườn tâm rộ nở,

Khí non sông hòa nhịp điệu phục-hưng.

Nắng tự-do, nhân-chủ rọi muôn phương,

Trời quang-đãng đón mừng “tân-vận-hội”.

Phật-Quang, Úc-châu: 08-12-1997

 

8.- CẢM NIỆM TRĂM NĂM

CỤ THIÊN-THÊ, NGUYỄN-ĐĂNG-ĐỆ (1)

 

Trăm năm sự thế thoáng qua mau,

HỒN NƯỚC lung-linh vẫn rạng màu.

Dâu bể bao phen hờn biến loạn,

Sắt son một dạ tỏ cơ cầu.

Phương-Canh nổi tiếng lòng nêu chí,

Dục-Thúy dài than đá gật đầu.

Thành, bại bàn sao gương trí-dũng,

Đan tâm ghi đậm nét dài lâu.

Houston: 19-03-1994

(1) Cụ Nguyễn-Đăng-Đệ, thân-phụ Giáo-Sư Nguyễn-Cao-Thanh, là nhà Cách-Mạng kiêm Thi-Sĩ. Cụ quê ở Phương-Canh. Cụ có tập thơ Hồn Nước, trong đó có bài thơ làm tại núi Dục-Thúy, Ninh-Bình.

 

9.- HƯỚNG VỀ CÔNG-ĐỨC (1)

 

Phước, trí trọn, tiến lên ngôi Đại-giác,

Nguồn tâm-tư khai thác hóa vô cùng.

Như non cao, như hạt cát sẵn viên-dung,

Nhân-duyên thế, quả, công thành cũng thế.

 

Lời Phật dạy trải qua bao thế-hệ,

Bóng trăng trong hiện tỏ đáy sông trong.

Tâm cúng dường, bố thí tựa hư-không,

Công-đức ấy, cát sông Hằng đâu sánh kịp.

 

Như muôn thuở, duyên lành may gặp dịp,

Góp công-trình đào tạo lớp người sau.

Tạo hoa-viên ghi nguồn cội xưa, sâu,

Mãi mãi được thắm tươi nòi Hồng-Lạc.

 

Mỗi người một công tác,

Mỗi người một gốc cây.

Chút tịnh-tài, công sức,

Góp gió thổi, mây bay.

 

Hòa trong tinh-chất linh-đài,

Rải từ-bi khắp muôn loài chúng-sinh.

Không dụng ý, không vô tình,

Cảnh thăng hoa ấy chính mình thăng hoa.

Cùng chung sức, biến Sa-Bà,

Hoa thơm, cảnh đẹp, đậm đà đạo duyên.

Mai sau trên bát-nhã-thuyền,

Thênh-thang thưởng thức hương sen nhiệm-mầu.

Kính mong như ý sở cầu.

Phật-Quang, Úc-châu: 10-01-1999

(1) Mừng buổi trai-yến gây quỹ kiến tạo Tu-Viện Phật-Quang và Hoa-Viên Việt-Nam.

 

10.- CẢM ĐỀ

THIỀN THƠ KHÔNG TÊN

của Chân-Thiền

 

Thiền vị hòa dâng ý nhiệm mầu,

Thơ nghiêng nguồn đạo vợi chung sầu.

Không không, sắc sắc hồn nhiên thấm,

Tên vượt thanh âm, vượt vọng cầu.

 

Thiền lẳng lặng nghe tiếng đảo điên,

Thơ vung gươm trí nhập vô biên.

Không sân, si, mạn, không lười biếng,

Tên lững lờ qua bóng dáng thiền.

 

Thiền đi chậm rãi khắp nơi nơi,

Thơ nhả không hoa vũ-trụ cười.

Không chút vương mang danh sắc huyễn,

Tên trong trong suốt mọi chân trời.

 

Thiền nói chân ngôn hướng dẫn đời,

Thơm mang diệu lý, ý không lời.

Không chau chuốt ngọc, không e ngại,

Tên vẫn không tên! Trăng nước thôi!

Đầu xuân Canada năm 2000

 

11.- QUEENSLAND (1) TỨC CẢNH

 

5 năm thăm viếng cảnh Quyn-len,

Nắng lửa vờn mây, hoa lá chen.

Khuynh-diệp phất phơ mừng Phật-tự,

Phượng-hoa đỏ thắm gợi hương-duyên.

Gion-ly chót vót nhìn muôn phía,

Rét-líp mênh mông thả bộn thuyền.

Diễm sắc thiên nhiên vô-tận-tạng,

Sông Hồng, Hương, Cửu sóng bao yên!

Brisbane, Úc-châu: 13-12-1995

(1) Queensland (Quyn-len) là một tiểu-bang, Úc-đại-lợi. Tiểu-bang này khí hậu nóng như Việt-Nam, có nhiều cây khuynh-diệp, có hoa phượng-vĩ, nhãn, ổi, sầu riêng v.v… Đứng trên đồi Jolly nhìn khắp mọi phía. Xem bến cảng Redcliffe, sông nước mênh mông, tầu, thuyền tấp-nập.

 

12.- VUI VỚI NIỀM VUI

 

Vui với niềm vui của Đạo Vàng,

Vui cùng tứ chúng (1) mỗi Hè sang.

Vui mây bàng bạc mười phương hợp,

Vui nắng dâng hoa đẹp mọi đàng.

 

Chân-lý cao-siêu được hiện lên (2),

Xa xưa vườn Lộc đã xây nền.

Sinh già bệnh tử, tươi màu đạo,

Nét đẹp Vô-Sinh, bóng dáng hiền.

 

Chỉ “biết” và không, có thế thôi,

Thung-dung chân-cảnh dẹp luân-hồi.

Hư-không phóng khoáng không triền-phược,

Như Thánh cầu mong ánh sáng ngời.

 

Thiện-Sinh hiếu hạnh lễ gì đây?

Lễ sáu phương tâm trả đức dầy.

Đẹp đạo, tốt đời đây Cực-Lạc,

Đây nguồn chân-lý khỏi vơi đầy.

 

Chân voi to rộng sánh sao bằng,

Đức cả hư-không, đạo chuyển thăng.

Thế-trí lặng trầm qua mắt tuệ,

Rạch, nguồn xa thẳm dưới sông Hằng.

 

Tâm cầu giải-thoát hiểu đường đi,

Đi tới nơi “tâm chẳng động” gì.

Chặt lõi cây mang, mang đạt đích,

Vô biên pháp-giới một lòng ghi!

 

Tìm nơi chân-lý chớ tin càn,

Dù bởi đâu đâu vẫn chẳng can.

Rõ thực, hiểu sâu bằng thực-nghiệm,

An vui, lợi lạc, phúc muôn vàn.

 

Vui với niềm vui tâm lắng trong,

Cùng chung tỉnh-thức đạo vun trồng.

Cùng lên bờ giác, tâm an-lạc,

Cùng đón quần-sinh thoát bụi hồng.

Mùa Nghiên-Tu An-Cư,

Tổ-Đình Từ-Quang: 14-7-2001

(1) Bốn chúng của đức Phật: Tăng, Ni, thiện-nam, tín-nữ.

(2) Các đoạn thơ dưới đây, ngầm nêu các kinh đã giảng trong Mùa Nghiên-Tu An-Cư này như: kinh Chuyển Pháp Luân, kinh Thánh Cầu, Kinh Thiện-Sinh, kinh Dụ Dấu Chân Voi, kinh Dụ Lõi Cây, kinh Kalama.

 

13.- MỪNG HÒA-THƯỢNG HỘ-GIÁC (1)

 

Xấp-xỉ niên linh bảy chục tròn,

Tâm can trang trải giữa càn-khôn.

Miền Nam linh-hoạt danh vang rộng,

Chùa Tháp khai sinh tiếng mãi còn.

Mấy độ hy-sinh cơn pháp-nạn,

Bao hồi cống hiến nghĩa sinh-tồn.

Nước non, đạo-pháp lồng mây trắng,

Ghi tạc lòng son đá chẳng mòn.

Houston, TX: 18-09-1996

(1) Ngày 29-9-1996 chùa Pháp-Luân tổ chức buổi lễ cầu an chúc thọ cho Hòa-Thượng Hộ-Giác 69 tuổi, buổi lễ này Hòa-Thượng gọi là buổi lễ “Rửa tay gác kiếm”, có nghĩa là Hòa-Thượng định an-trụ tịnh tu, không tham gia công tác Phật-sự gì nữa, mà tôi gọi là buổi lễ “Phóng xả vạn duyên”.

 

14.- MỪNG CHÙA PHẬT-QUANG 5 TUỔI

 

Chùa Phật-Quang vững xây trên nền đạo,

Tháng ngày qua, phút chốc đã 5 năm.

Gồng mình trong bão tố với mưa dầm,

Sáng danh đạo, quyết tâm và quyết tiến!

 

Bồ-tát-hạnh, tùy cơ, tùy phương-tiện,

Hiểu và Thương, ngầm gia-hộ quần sinh.

Trao cho đời một lẽ sống an-bình,

Ngưng ác, làm lành và ý tâm trong sạch.

 

Thị-phi, oan-nghiệt… bao chướng-duyên bức bách,

Ngược gió tung cát bụi nghĩ mà thương.

Cảnh trần-lao, đâu bận bịu vấn vương,

Thực-hành xả, trong từ bi hỷ xả.

 

Cảnh trang-nghiêm, tường hồng, hoa sắt lạ,

Cỏ hoa tươi, điện Phật rạng hào-quang.

Người và người hiểu rõ lẽ vô thường,

Chung chí-hướng khuông phù lòng vì đạo.

 

Ganh ghét, lợi danh, vọng tâm điên đảo,

Theo gió ngàn bay tận chốn xa xa.

Vun hoa đời, hoa đạo nở trong ta,

Bi và trí viên dung tròn bổn-phận.

Kỷ-niệm đệ ngũ chu-niên

Melbourne: 01-12-1996

 

15.- PHÁP-NGỮ AN VỊ

TÔN TƯỢNG BỒ-TÁT QUÁN-THẾ-ÂM

 

Viên-Thông Đại-Sĩ nguyện hoằng thâm,

Trí-lực, từ-quang Quán-Thế-Âm.

Quần phẩm triêm ân bồi phúc-nghiệp,

Tịnh bình y, chính thoát luân trầm.

 

Viên-Thông Đại-Sĩ nguyện xa xôi,

Bi, Trí rạng soi, suốt tiếng đời.

Nhuần thấm ân ba, vun phúc-nghiệp,

Thanh-bình, an-lạc, khỏi luân-hồi.

Tổ-Đình Từ-Quang: 27-10-1991

 

16.- HÀO-QUANG ĐẠI-GIÁC

 

Không-gian vọng tiếng khổ đau,

Thời-gian heo-hút nhuốm màu tang thương.

Nhân sinh ray rứt đoạn trường,

Sống say chết mộng! Lòng thương muôn loài!

Ban mai, chân-lý rạng ngời,

Uyên-nguyên sự vật, một thời điểm chung.

Lồng trong bản-thể viên-dung,

Mảy may, vô tận, có, không… duyên thành.

Hoa tâm sực nức hương lành,

Sông trong, trong cả dáng hiền chim qua.

Gương xưa sáng mát Sa-Bà,

“Hào-quang Đại-Giác” thăng hoa muôn đời.

Mùa Phật-Đản Canh-Ngọ (1990)

 

17.- VỮNG TÂM XÂY DỰNG

 

Không-gian mưa gió lộng,

Sấm chớp lóa trăng sao.

Tùng xanh ung dung đứng,

Năm tháng với trời cao.

 

Trong đối đãi tránh sao không đối đãi,

Khen, chê, cười, hay, dở vẫn y nhau.

Kìa non, non cao, nọ biển, biển sâu,

Tâm rộng, hẹp đổi trao theo nghiệp-quả.

 

Biết rõ đời là vô thường hư giả,

Tấm lòng trong, ngàn muôn thuở như như.

Niềm hân hoan, hạnh-phúc gợi tâm từ,

Chung an-lạc vững tâm ta xây dựng.

 

Lâu đài cao vờn hư không sừng sững,

Cảnh hoa viên cây cỏ nhả hương lành.

Lớp lớp người tắm gội ánh quang vinh,

Nay vui vẻ, mai sau đầy vui vẻ.

 

Công đức ấy cát sông Hằng sánh kể,

Nước non này lưu lại bóng người xưa.

Cùng hòa vui trong cảnh giới Vô-Dư,

Cùng ban trải tâm từ bi hỷ xả.

Chùa Phật-Đà, Úc: 16-12-1999

 

18.- VIỆT-NAM QUỐC TỰ

 

Hà-chính phi tai Quý-Mão niên,

Không-môn đồ thánh lệ xung thiên.

Đồng-nhân huyết hãn linh quy tụ,

Sáng kiến Việt-Nam Quốc-Tự thiền.

 

Cường quyền gây nạn Sáu Ba (1963),

Ngất trời, cửa Phật chan hòa lệ rơi.

Đồng-nhân máu lệ vun bồi,

Việt-Nam Quốc-Tự một thời đắp xây.

Canada: 8-8-1981

 

19.- TỪ-QUANG-TỰ

 

Nam, Bắc phân kỳ, hướng tự do,

Từ-Quang phạm-vũ thị xương đồ.

Khuông phù thế, đạo an tâm-nguyện,

Nội ngoại đồng nhân ký viễn mô!

 

Nam, Bắc đôi đường, hướng tự-do (1954),

Từ-Quang, cảnh Phật hiện cơ đồ.

Giúp đời, tiến đạo tròn tâm-nguyện,

Khuôn thước trong, ngoài nhất trí lo!

Canada: 8-8-1981

 

20.- TIN XUÂN

 

Guồng máy huyền-vi khéo chuyển vần,

Tường Đông ngọn gió báo tin xuân.

Rung rinh lá dãi màu xanh thắm,

Phơi phới hoa khoe sắc trắng ngần.

Ríu rít trên cành oanh chuốt giọng,

Nhởn nhơ ngoài nội bướm phô thân.

Ngàn thông đượm phủ màn sương sớm,

Điểm hạt mưa bay lắng bụi trần.

 

Điểm hạt mưa bay lắng bụi trần,

Trên đường sinh-hoạt, rộn chen chân.

Đàn văn inh ỏi rao tài nghệ,

Trường lợi xôn xao tính cổ phần.

Trang điểm nét xuân lòng náo nức,

Lo toan mùi tết dạ bần thần.

Khá khen ai khéo bày ra thế!

Ngợp ánh Xuân-Dương được mấy lần?

Mùa Xuân Nhâm-Thân (1992)

 

21.- CỎ THƠM ĐẤT PHẬT

Họa theo nguyên-vận thơ Phương-Thảo

 

Xuân sang, thơ tới giữa mùa Đông,

Ấm, lạnh, buồn, vui quyết một lòng.

Đất Phật, cỏ thơm tròn nguyện vọng,

Đạo đời lợi lạc thể dung thông.

 

Bóng câu thấp thoáng vụt mau qua,

Vì đạo quên thân chẳng kể già.

Cứu khổ, ban vui, vui nghĩa-vui,

Ươm hoa Cực-Lạc tại Sa-Bà.

 

Chí lớn mong cầu chẳng ngại nan,

Đời hoa tỏa mát đẹp muôn vàn.

Lung-linh bảo-sở tràn kho-tạng,

Thu gọn xuân tâm, tâm tự an.

 

Xứ lạ quê người đón chúa Xuân,

Tuyết hoa phơi phới đẹp vô ngần.

Phong-lan, phương-thảo chân trời rộng,

Dâng ánh xuân-quang tới mọi phần.

 

Kìa đóa sen thơm gọn đạo-tình,

Muôn phương hoa cỏ đượm bình-minh.

Nước non, đạo pháp tròn tâm-niệm,

Chào đón xuân qua hưởng thái-bình.

 

Cỏ thơm hương-nhũ nhuận tinh-hoa,

Đất Ấn ngàn xưa dấu Phật-Đà.

Phước-trí trọn nên dòng Thích-tử,

Chúng sinh vui đẹp, đẹp lòng ta!

Xứ lạnh, xuân Tân-Tỵ (2001)

 

22.- CHUYẾN ĐI LỊCH-SỬ

Tặng Sư Cô Thích-Nữ Chân-Kim

Lên đường phổ khuyến việc kiến-tạo

Hoa-Viên Việt-Nam tại Úc-châu

 

Đi cho thanh-thản cõi lòng,

Cho công việc Phật thành công lẫy lừng.

Cho âm vang động núi rừng,

Cho người chung sức vun trồng phúc chung.

Mùa Xuân Tân-Tỵ (2001)

 

23.- MỪNG LỄ KHÁNH THỌ

CHÙA CHÂN-QUANG, CANADA

 

Chiếc bóng thời-gian vun vút bay,

Đầu xanh, tóc bạc có bao ngày.

Đạo-tình thắm đượm lòng con Phật,

Mừng chúc Cao Niên: “Phúc thọ đầy”.

 

Trong trẻ từng giây đã có già,

Đường đời xuôi ngược bộn bôn ba.

Gia-đình sự nghiệp không ngơi nghỉ,

Đất nước nhân dân chẳng bỏ qua.

 

Sức lực tung ra trả nợ đời,

Tâm-tư ban trải khắp nơi nơi.

Vì tình, vì nghĩa, vì thiên-chức,

Vui vẻ làm xong được thảnh-thơi.

 

Thảnh-thơi xem lại bản thân ta,

Gột sạch trần lao tới Phật-Đà.

Phúc-tuệ trau giồi thêm trọn vẹn,

Niết-bàn hiện tại có đâu xa!

 

Niết-bàn hiện tại có đâu xa,

Lục căn thanh-tịnh là đà tiến lên.

Không bận rộn, hết ưu-phiền,

Giúp người thương vật tinh chuyên tu hành.

Đời nay được mọi tốt lành,

Vô biên phúc lạc theo mình mai sau.

Chúc mừng: “Như ý sở cầu”.

Chùa Chân-Quang: 15-8-1998

 

24.- CÓ NGẠI GÌ?

Tặng Giáo-Sư Vô Ngại,

Nguyễn-Cao-Thanh

 

VÔ NGẠI, dấn thân có ngại gì,

CAO-THANH, công-đức mãi còn ghi.

Bao phen lao lý coi như vậy!

Mấy độ phong-sương thấy chẳng chi!

Đạo-pháp ngả nghiêng lòng thổn-thức,

Nước non tan nát dạ sầu bi!

Hương sen ngát tỏa nay mai sẵn,

Xuân sáng quê hương khỏi định kỳ!

Xuân xứ lạnh: 12-4-2000

 

25.- XUÂN ĐẾN LÀM CHI

 

Lưu lạc quê người đã mấy xuân?

Làm chi trang trải nợ phong-trần?

Làm chi cho thế-gian không bận?

Cho chút tâm-tư khỏi nợ nần?

 

Phảng phất hồn quê mỗi mỗi chiều,

Nhà tranh vách đất, khói phiêu-diêu.

Âm-thầm dưa muối vui đoàn-tụ,

Giăng mắc mây mờ… cảnh tịch-liêu!

 

Một giải non sông dệt gấm hoa,

Lệ đầm, huyết đậm, tuyết sương pha.

Văn-minh, văn-hiến nung hồn sử,

Cổ kính trang-nghiêm – Ánh nhạt-nhòa!

 

Cùng nòi Hồng-Lạc, giống Rồng Tiên,

Quốc phá, gia vong - Chuyện đảo-điên.

Nối gót “tự-do”, buồn đáy biển!

Thoát xiềng “tàn bạo” vướng triền-khiên!

 

Dưới mái chùa xưa vọng tiếng chuông,

Lâng lâng thoảng dội, bóng chiều buông.

Từ-âm trao gửi niềm an-lạc,

Chuyển biến âm ba… Rạp hát tuồng!

 

Tỉnh lại, trò đời thấy thảm thương,

Đôi vai dù nặng quyết lên đường!

Gắng xây dựng lại cơ-đồ cũ,

Đỡ cảnh bơ vơ, đỡ vấn vương!

 

Tổ-chức chung lo, chí vững bền,

Tư-thù, mặc-cảm giũ ngoài hiên.

Nằm gai, nếm mật, rèn tâm luyện,

Muôn một như nhau, một mối giềng!

 

Kìa bóng gia-đường lớp lớp hoa!

Nước non rực rỡ ánh sao sa!

Hương thơm quyện gió, chuông chùa cũ,

Giải-thoát, an vui, cảnh thái hòa!

Xuân Mậu-Thìn (1998)

 

26.- MỪNG LỄ KHÁNH THỌ

TỔ-ĐÌNH TỪ-QUANG

 

Nhân-luân diên thọ bản hy kỳ.

Giác tỉnh bình-sinh, biểu giám quy.

Thiên-sứ đặc trưng quang chính-đạo,

Danh ngôn kinh-nghiệm nhuận hoa thì.

Viên dung trí đức an chân nhậm,

Lưu lộ tinh-thần đạt điển nghi.

Tư-thái thung-dung vô quải ngại,

Đồng-nhân cộng hội lạc xuân huy.

 

Sống lâu ai cũng mong cầu,

Bình-sinh tỉnh thức, gương sau theo đòi.

Sứ trời soi sáng nơi nơi,

Danh ngôn, kinh-nghiệm rạng ngời tuổi hoa.

Viên-dung trí-đức an-hòa,

Tinh-thần lưu lộ đậm-đà nét son.

Thung-dung tư-thái thanh-nhàn,

Ánh xuân vui họp lan-tràn đồng-nhân.

Canada: 30-6-1991

 

27.- TÌNH THƯƠNG

 

Không hiểu sao, tâm-linh thao thức dậy?

Mắt long lanh cuồn cuộn giọt châu rơi!

Thẳm trời mây non nước ngút mù khơi,

Vườn tâm sự hoa vàng heo hút gió.

 

Mưa lay lắt não nề hoen mắt cỏ,

Gió vi vu thấm thía rợn sườn non.

Nước run run lệ chảy suối trơ mòn,

Cây thơ thẩn đứng trông vời mây bạc.

 

Văng vẳng tiếng chim xa rơi rời-rạc,

Thẫn-thờ bay cánh bướm mỏi không-gian.

Ánh tà-dương lay động bóng tâm hàn,

Đèn leo lét chập-chờn chen kẽ lá.

 

Đường tê-tái chân người khách lạ,

Phố nhà ai thiêm thiếp giấc mơ nồng.

Trăng mơ màng u-ẩn giữa lòng không,

Màn đêm lạnh nỉ-non cùng tiếng dế.

 

Tia nắng lại, quay nhìn về thế-hệ,

Sông loang hồng, núi trắng ủ hồn thương.

Lá tre xưa lả-tả khóc bên đường,

Dừa trơ-trụi tủi than vườn hoang lạnh.

 

Lảo-đảo bước tha phương lòng canh cánh,

Khói hồng dâng huyết hãn tắm hư vô.

Mệnh vô thường lưu lại cảnh đơn cô,

Nơi tử-lý bóng thung huyên mờ nhạt.

 

Vũ-trụ tan tành, cõi lòng bi đát,

Giây vô tình ràng buộc mối oan-khiên.

Chốn âm-u mong rọi ánh thiêng liêng,

Cho công-lý, thanh-bình mau ló rạng.

 

Gặp chinh-chiến tâm tham sân lai vãng,

Hiện thiên hình vạn trạng cấy đau thương.

Khí tham ô, hiếp bách tỏa muôn phương,

Lòng phản-phúc, khổ đau người trung-trực.

 

Trăng lẻ bóng phòng khuê ai ấm-ức,

Khóc thương người sương gió chốn xa xăm.

Tiếng sông Tương xa mãi chẳng hồi âm,

Hồn bướm lượn hoa vàng chung giấc mộng.

 

Tiếng gió quyện xa xa nghe đồng vọng,

Khách phiêu-du ngừng lại, bước chân đi!

Đem tình thương thoa dịu nỗi sầu bi,

Thêm nét vẽ cho cảnh đời tươi đẹp!

Tam-Bảo Vạn Phật Tự,

Cameron, Malaysia: 19-12-1971

 

28.- CẢM XUÂN 80

 

Tám chục xuân-quang đã khởi đầu,

Nợ trần còn trả độ bao lâu?

Lao tù từng trải nhiều cay đắng,

Hoạt-động thường qua lắm dãi dầu.

Đạo-pháp chưa sao qua ách nạn!

Nước non đâu đã thoát u-sầu!

Không-gian bừng sáng, thời-gian đẹp,

Hòa-nhập thiên-nhiên chẳng vọng cầu!

Đầu xuân Canh-Thìn (2000)

 

29.- THỌ TUẾ

(Tuổi thọ)

 

Bát tuần thọ tuế dĩ quang lâm,

Thế, đạo song kiên, nhất thốn thầm.

Tâm cảnh trang-nghiêm, an chính-nghiệp,

Thiên-nhiên hoa thảo lạc đồng âm!

 

Tám chục xuân-quang đã tới rồi,

Đạo, đời mang gánh một lòng thôi.

Trang-nghiêm tâm, cảnh vui tròn nghiệp,

Hoa cỏ thiên-nhiên thỏa mộng đời.

 

Tám mươi xuân đã sang rồi,

Lòng trong, mang gánh đạo, đời hai vai.

Tâm an vui, cảnh đẹp tươi,

Hồn lâng lâng quyện hương trời cỏ hoa.

Mùa sen nở năm Canh-Thìn (2000)

 

30.- CHUNG NIỀM HOÀI NIỆM

Cảm nghĩ về tập thơ Côn-Sơn Tùy Cảnh của

Cựu-Tuyên-Úy Phật-Giáo tại Côn-Sơn, Nam

Việt-Nam, Thích-Tâm-Thành

 

Xem qua thi-phẩm Cảnh Côn-Sơn,

Phảng-phất hồn quê bóng chập-chờn.

Cẩm-tú giang-sơn thương tiếc tủi,

Lung-linh trăng nước rộn tâm hồn.

 

Công-đức Hùng-Vương khó nghĩ lường,

Tiền-nhân khai mở rộng biên-cương.

Máu xương, công sức trùn sương gió,

Ân, oán trào dâng mấy dậm trường.

 

Nhớ nghĩa sinh thành, nhớ bạn hiền,

Nhớ công chiến-sĩ đức vô biên.

Nhớ thầy giáo dưỡng thành nhân-cách,

Nhớ ánh Từ-Quang tỏa mọi miền.

 

Gương xưa vằng vặc chiếu lòng son,

Hùng-khí hiên ngang dạ chẳng sờn.

Đuốc tuệ khai quang trời ảm-đạm,

Nước non hoa cỏ đượm xanh rờn.

 

Sự đời muôn mặt gợi tâm-tư,

Nhẫn-nhục, tinh-chuyên rải đức từ.

Như đất an-nhiên cưng vạn vật,

Như sông thâu nhập mọi tàn dư.

 

Tuyên-Úy  Côn-Sơn dấu nặng ghi,

Âm vang, hiện thực có xa gì.

Thịnh, suy, bỉ, thái vô thường mộng,

Một niệm chân-thành, thế chuyển-di.

Chùa Quán-Âm,

Los Angeles: 27-5-2001

 

31.- BÁT TUẦN KHÁNH THỌ - I

 

Kiến đạo, liễu thế nhân,

Thành thân: giáo-dưỡng ân.

Chí, tâm hằng tu luyện,

Thế, đạo cộng tương lân.

Nhật vãng, nguyệt lai tảo,

Tôn-Sư dĩ bát tuần.

Tam Bảo thường gia hộ,

Chân-thân nhuận trường xuân.

 

Nhờ Thầy giáo dưỡng nên người,

Hiểu sâu Phật-pháp, biết đời mong manh.

Rèn tâm, luyện chí tu hành,

Thương đời, mến đạo, đường lành dấn thân.

Ngày qua, tháng lại, chuyển vần,

Ơn Thầy trang trải tới tuần tám mưới.

Nguyện cầu Tam Bảo sáng soi,

Mong Thầy sống mãi đời đời độ sinh.

Phật-Quang: 25-11-2000

 

32.- BÁT TUẦN KHÁNH THỌ - II

 

Giới-thân, tuệ-mệnh mộc ân-ba,

Tiến đạo nghiêm thân chủng Phật-đà.

Bát thập thọ-tinh quang pháp-thể,

Chân-nguyên quảng tục nhuận Sa-Bà.

 

Giới-thân, tuệ-mệnh nơi ta,

Nghiêm thân, tiến đạo Phật-đà nối chân.

Tinh-quang tám chục tới tuần,

Nguồn CHÂN rộng thấm cõi trần xanh tươi.

Australia: 26-11-2000

 

33.- LIÊN HOAN TRAI YẾN

 

Chùa Chân-Quang đặt “Liên-Hoan Trai Yến”,

Mừng Cao Niên và thân-quyến chung vui.

Bao tháng năm, dù góc biển chân trời,

Tròn bổn-phận dưỡng thành cho con cháu.

 

Công cha mẹ hơn bạc vàng châu báu,

Có mong gì đền đáp ở nơi con.

Chỉ mong con sao giữ đạo cho tròn,

Gia-nghiệp tốt và sáng danh cùng vũ-trụ.

 

Công đức ấy biết làm sao cho đủ,

Dốc một lòng theo lời Phật dạy khuyên.

Không bao giờ để cha mẹ ưu phiền,

Cung dưỡng đủ những nhu-cầu vật-chất.

 

Hướng cha mẹ theo những điều như thật,

Biết làm lành, lánh dữ, sạch tâm-tư.

Gắng vun trồng trí-tuệ với tâm từ,

Nay an-lạc và mai sau an-lạc.

 

Người quá cố mong thức-thần giải-thoát,

Nhờ nguyện cầu, nơi dương-quyến cháu con.

Tận chân-thành giữ danh-dự trường tồn,

Luôn mãi mãi làm tông-phong sáng rỡ.

 

Ngày hoan yến trong tinh-thần cổi mở,

Đạo hiếu từ giữa cha mẹ, cháu con.

Cầu mong sao gia-đạo được vẹn tròn,

Mong Phật-pháp dài lâu cùng nhân-thế.

Chùa Chân-Quang: 15-8-1998

 

 

34.- PHÁP-NGỮ AN VỊ

TƯỢNG PHẬT CHÙA NAM-QUANG

 

Nam-Quang nhật nhật đạo xương minh,

Phật-tướng trang-nghiêm quán thái-thanh.

Pháp-vũ đẳng lưu vô biệt niệm,

Nhân hoa công nhuận lạc an bình.

 

Nam-Quang ngày một mở mang,

Kim-dung cao ngự khang-trang giữa trời.

Chan hòa mưa pháp nơi nơi,

An bình thấm gội muôn loài vui chung.

Portland: 9-8-1998

 

35.- PHẬT-ĐÀ HOA NỞ

 

Dòng tâm nguyện trào dâng qua Phật-sự,

Tám Đông Hè ánh đạo rạng ngời soi.

Hướng về đây, Nam-Cực ngút chân trời,

Vang vang vọng đạo Từ-bi, Trí-tuệ.

 

Tráng-lệ, nguy-nga chưa dám kể,

Cõi lòng trong, đời đạo được nâng cao.

Màn trời đêm, điểm ánh sáng trăng sao,

Vui sống đạo, tốt cho đời, hằng thực hiện.

 

Phật-pháp rộng sâu như biển,

Tình thương trùm khắp sơn hà.

Phúc, tuệ viên thành sự-nghiệp,

Diệu-tâm bừng nở trong ta.

 

Nơi Phật-Đà, ý niệm nở xuân hoa,

Đài “tự-tại” hiện chân-dung Bồ-tát.

Hương từ-bi lồng mây che mát dịu,

Nước cam-lồ phai nhiệt não đau thương.

 

Ngôi Phật-đường sẽ hiện bóng huy-hoàng,

Nền từ-thiện đang ươm hình trong tư-tưởng.

Bước, tiến bước, không ngại ngùng ngăn vướng,

Lòng thênh-thang hoa cỏ rợp Từ-quang!

 

Tâm thành lan tỏa mười phương,

Nước trong, hiện thể chân-thường, trăng trong.

Đạo, đời sứ mạng viên-dung,

An vui, hạnh-phúc chung cùng quần sinh.

Cầu mong Phật-đạo xương-minh!

Chùa Phật-Đà, Úc-châu: 8-12-1998

 

36.- VỊNH SÔNG BRISBANE

 

Đĩnh thượng giang lưu khán thái-không,

Lung-linh tinh-đẩu lộng thanh-phong.

Liên đăng hoa hạ lung thiên thể,

Thủy ảnh du-thuyền lạc mộng trung.

 

Trung-tâm lưu xuất nhất danh-giang,

Cẩm tú phong quang việt tiểu-bang.

Hoa thảo hàm triêm sinh-khí nhuận,

Viêm thời du khách nhập thanh-lương.

 

Nhìn trời trên chiếc thuyền thoi,

Gió lùa hơi mát sao ngời ánh sao.

Đèn nhà lấp lánh vươn cao,

Nước trong lồng bóng thuyền trao an lành.

 

Sông trong chảy giữa đô-thành,

Phong-quang gấm vóc vượt hình Queensland.

Cỏ hoa thấm gội khí lành,

Mùa viêm-nhiệt, khách thỏa tình thảnh thơi.

Brisbane, Úc-châu: 17-12-1999

 

37.- NHỚ ƠN CHA MẸ

 

Biển rộng non cao khó sánh tầy,

Công ơn cha mẹ nặng sâu dầy.

Tượng hình cho đến tròn trần-nghiệp,

Canh cánh bên lòng, ai có hay!

 

Cử động khoan thai lắng dịu hiền,

Nhẹ nhàng nhịp thở tiếp sinh-duyên.

Nhộn vui thế-tục dần xa tránh,

Ước nguyện phôi thai được vẹn tuyền.

 

Lam lũ bôn ba chẳng ngại phiền,

Vào sinh ra tử có bao quên!

Quên sao con đỏ trong thai tạng,

Mong mẹ con yên, lòng dạ yên!

 

Trọn tháng hoa khai tất cả vui,

Nâng niu săn sóc tựa con trời.

Chịu phần ẩm ướt, dành khô ráo,

Gắng sức chu toàn dạ mới nguôi!

 

Mỗi tuổi lớn khôn mỗi tuổi lo,

Học hành thăng tiến, xứng danh trò.

Vào đời, sự nghiệp lưu thanh-sử,

Nhân loại an vui, rạng cõi bờ.

 

Gia-thất đó đây trọn mọi bề,

Trăm năm chung thủy vẹn câu thề.

Nói năng cư xử không va chạm,

Đầy đủ, không ai bị trách chê.

 

Lan huệ nẩy sinh rộn chúa xuân,

Nhà nhà vui vẻ dáng thiên thần.

Cháu, con, chắt, chút ban trìu mến,

Một cánh tay ôm tới mãn phần!

 

Ơn ấy, bao đời kiếp khó quên,

Xuôi dòng tâm-thức mãi lưu truyền.

Nước trong, tưởng lại thương nguồn cội,

Thân-quyến sum vầy nhớ tổ tiên!

 

Giải-thoát tử sinh ý nguyện thành,

Gột trong ba nghiệp (1) tạo công trình.

Cho mình an-lạc, người chung hưởng,

Cho cả chân-linh tới cõi lành.

 

Dứt trừ duyên-nghiệp vô minh,

Lâng lâng vượt thoát dáng hình mộng mơ.

Pháp-thân không bến, không bờ,

Giác-minh một ánh lặng tờ chân-như!

Chùa Liên-Hoa, Charlotte, NC

Mùa Vu-Lan: 05-08-2000

(1) Ba nghiệp: thân, miệng, ý.

 

38.- TRUNG-TÂM KÍNH LÃO

NEW YORK, U.S.A (1)

 

Kính Lão Trung-Tâm đạt ngũ niên,

Mỹ-Đông phương vị phổ quang thiên.

Nhân nhân cộng lạc triêm ân đức,

Tùng bách trường xuân kỷ vạn thiên.

 

Trung-Tâm Kính Lão mấy năm ròng,

Tiếng tốt vang truyền Hội Mỹ-Đông.

Ân đức, chung vui, chung hưởng-thụ,

Muôn xuân trường thọ tựa thanh-tùng.

Mùa Hè, năm 1994

(1) Trung-Tâm Kính Lão là một bộ-phận của Hội Mỹ-Đông, tức Hội Việt, Miên, Lào (thuộc Đông-Dương trước kia) tỵ nạn tại New York, Mỹ-quốc).

 

39.- MỪNG HỘI PHẬT-GIÁO CƯ-SĨ

NEW YORK

 

Phật-pháp hoằng khai độ thế-gian,

Giáo truyền Nam-Thiệm bá từ-vân.

Cư an, sinh hoạt thường tăng tiến,

Sĩ tải vô vi đạt niết-bàn.

 

Lời Vàng truyền bá rộng xa,

Mây từ rợp khắp Sa-Bà an vui.

Tâm an cư, tiến không lùi,

Vô vi thanh thoát đạt nơi Niết-bàn.

Mùa Hè, năm 1994

 

40.- CẢM XUÂN 81

 

Kìa xuân tám mốt tới rồi đây,

Tuyết rải bông mai trắng ngập đầy.

Cây phủ pha lê, cười gió lộng,

Hồn lâng lâng quyện hướng hương bay.

 

Hương bay hòa nhập cảnh siêu-nhiên,

Ngát tỏa chân-như, ý diệu huyền.

Sóng, nước đùa vui trong nhất thể,

Thời, không-gian dệt mộng vô biên.

 

Vô biên sự vật hiện nơi đời,

Hoa chuyển màu xinh, sao đổi ngôi.

Chuyển, đổi thoáng qua hương bất diệt,

Nước muôn sông lặng, ánh trăng soi.

 

Trăng soi nhân quả tỏ nơi nơi,

Lý tưởng chung xây đẹp cảnh, người.

Nhân loại an nhiên, vui lẽ sống,

Núi sông bừng sáng, đượm màu tươi.

 

Màu tươi tràn ngập ánh chân thường,

Phơi phới mây bay, cỏ ngát hương.

Gió mát làn cây, gương nắng đọng,

Tâm hoa khơi mở rộng muôn phương.

 

Muôn phương thu lại một tâm này,

Đời đã nuôi ta khắp đó đây.

Làm trọn nghĩa sinh cùng nghĩa tử,

Ung dung tự-tại chẳng vơi đầy.

Tết xuân Tân-Tỵ (2001)

 

41.- XÂY DỰNG

 

Chùa Phật-Đà tạo bữa cơm xây dựng,

Xây dựng chùa, xây dựng cả tâm-hồn.

Vừa rạng Đông, chớp mắt thấy hoàng-hôn,

Người tỉnh-thức, cần hướng tâm xây dựng!

 

Vô số kiếp đi lang thang, lững thững,

Sống bồng bềnh theo nghiệp-lực nổi trôi.

Vòng lợi danh, tài sắc, vướng luân hồi,

Nhờ phúc-báo, hóa thân người trần thế.

 

Sống lẽ sống, buông lơi qua thế hệ,

Ngày lại ngày, nắm bắt bóng nhị nguyên.

Ta với người đẹp, xấu với sang, hèn,

Gây tranh chấp, gây tang thương, đổ vỡ!

 

Đời thế thế! Sự đời đâu bỡ ngỡ!

Chuyển tâm tư sang hành động phi thường.

Không phân chia sự tướng với ngả đường,

Đường công ích, ta chung lưng xây dựng!

 

Sáng suốt, quyết tâm, đồng lòng, chịu đựng,

Dù gian lao, vất vả, quyết thành công!

Nhân loại an bình, rạng rỡ non sông,

Trò hắc ám, phi nhân thành mây khói!

 

Cảnh Phật-Đà tương lai bừng chói lọi,

Ánh Đạo Vàng lan tỏa khắp nơi nơi.

Xây tình thương, trí-tuệ giữa muôn loài,

Hiểu rõ nghĩa “Phật-đà” là “giác-ngộ”.

Brisbane: 24-11-1996

 

42.- CẢM NIỆM TÁC-PHẨM

ÁNH SÁNG VÀ BÓNG TỐI

của Đức-Hạnh

 

Dòng sinh tử chuyển lưu từ vô thủy,

Do vô minh tham ái mịt mù che.

Vén mây mờ khơi tỏ lối quay về,

Bằng ánh sáng của từ-bi, trí-tuệ.

 

Mải đắm say trong cuồng si Tục-đế,

Đượm men nồng trong danh sắc phù-du.

Chồng chất thêm cho tập-khí hữu-dư,

Thêm nhân-tố luân-hồi trong mọi ngả.

 

Đâu có biết là vô thường, khổ, vô ngã,

Là duyên sinh, duyên khởi tiếp muôn đời.

Ẩn-tàng trong Tạng-thức sẵn lâu rồi,

Chủng-tử có, tất hiện-hành phải có.

 

Ánh sáng đạo mong có ngày tỏ lộ,

Hướng theo chiều chân-đế để mà đi.

Biết hiểm nguy, biết thực hiện yếm ly,

Luôn tỉnh thức sự lọc lừa trong dục vọng.

 

Giới, Định, Tuệ con đường đi quan trọng,

Văn, Tư, Tu, chánh niệm mãi tinh chuyên.

Trì chú, tụng kinh, niệm Phật, tham thiền,

Tâm an-tịnh, trăng bồ-đề chiếu rạng.

 

Trừ bóng tối để tiến lên ánh sáng,

Quyết nương theo giáo-pháp, gắng công tu.

Tự nơi mình biết làm đúng, biết suy tư,

Nhờ kinh sách và nhờ tài hướng dẫn.

 

Sách Đức-Hạnh khéo phân chia tường tận,

Đã kinh qua sự giảng diễn nơi nơi.

Qua học đường, qua khói lửa tơi bời,

Qua kinh-nghiệm của bao năm sống đạo.

 

Sống nếp sống được coi như tái tạo,

Sạch tâm hồn, sạch cảnh sắc quanh ta.

Ngát hương sen trong cảnh giới Sa-Bà,

Đây tu học, đây là gương tỉnh-thức!

Canada, tháng 4 năm 2000

 

43.- HOA QUỲNH NỞ

 

Bán dạ quỳnh hoa tiếu,

Đường trung hương liêu nhiễu.

Nhân gian phương tỉnh thức,

Giác ngộ chân vi diệu.

 

Hoa quỳnh nở giữa ban đêm,

Đầy nhà ngào ngạt, hương đem phước lành.

Nhân gian tỉnh mộng bình sinh,

Đường chân-giác-ngộ, nơi mình thăng hoa.

Tu-Viện Sùng-Nghiêm: 17-08-2001

 

44.- AI CŨNG TƯỞNG

 

Ai cũng tưởng,

Canada là một miền băng giá,

Hạ và Đông mang gánh cả trời buồn.

Nắng lơ thơ, phơ phất giọt mưa tuôn,

Trắng ngập tuyết, xoay quanh lò sưởi ấm!

 

Đây nghĩ tưởng xa xôi hơi lẩm cẩm,

Chính-báo mình và y-báo nương nhau.

Trập trập trùng nhân trước quả theo sau,

Vui, buồn tạo bởi cảm-quan tâm tưởng.

 

Chúng sinh vô lượng,

Pháp-giới vô cương.

Một thể chân-thường,

Tâm biến muôn phương.

 

Nắng vàng nhẹ trở về hè ngất ngưởng,

Cỏ hoa cười, người nhẹ nhõm thảnh thơi.

Rợp khung trời, muôn màu sắc vui chơi,

Không, thủy, bộ sáng ngời bao kỹ-thuật.

 

Không-khí-cầu theo gió lùa phơ phất,

Cánh buồm thuyền chất ngất dáng hoa bay.

Xe đạp đua, xe máy lượn như say,

Người chạy bộ thả ga tranh trúng giải.

 

Pháo quốc-tế, rung trời như sao rải,

Văn-hóa nhiều sắc tộc thả phô trương.

Nhạc bổng trầm rộn rã khắp bao đường,

Du-khách viếng trùng trùng như chảy hội.

 

Gặp ngày nắng, nắng dâng lên gấp bội,

Bao bờ sông, bãi biển thỏa thiên-nhiên.

Bao công viên hoa nước tỏa liên miên,

Già, lớn, bé ngâm mình vui mát rượi.

 

Người làm việc nghỉ hai tuần không nghĩ ngợi,

Khỏi lo tiền, khỏi lo phạt đâu đâu.

Luật chung cho như thế có chi rầu,

Cảnh trần-thế mấy nơi mà sánh kịp.

 

Giấc nồng thiêm thiếp,

Cảnh vật lắng trong.

Tâm niệm tương đồng,

Thời, không hòa hiệp.

 

Sáu tháng Đông, người người coi như líp,

Phương-tiện dùng sẵn đủ đã từ lâu.

Tường nhồi len, sưởi ấm trước như sau,

Xe gắn bánh bốn mùa đi tự-tại.

 

Dù tuyết phủ phút giây không trở ngại,

Nối đuôi nhau xe hút đổ ven sông.

Dần dần cao như núi trắng trập-trùng,

Đường rải muối xe bon bon đi lại.

 

Màn bạc trải khắp nhà nhà trang trại,

Cơ xưởng làm rầm rập vẫn như xưa.

Siêu-thị đầy kẻ bán với người mua,

Mọi sinh-hoạt vẫn dư thừa vui nhộn.

 

Như bông trắng, như cánh sao tung rộng,

Như không gian đầy nét vẽ thiên-thần.

Cây lưu-ly, không đọt lá chuyển vần,

Thiên nhiên dệt một khung trời tuyệt diệu.

 

Hải âu trắng lượn bay coi phiêu diểu,

Lớp lớp người trượt tuyết phủ sườn non.

Đủ mọi môn nhào lộn thấy kinh hồn,

Thành băng tuyết, cảnh cây bằng băng tuyết.

 

Ông già quê đi hiên ngang không sợ trượt,

Ngực căng đầy dưỡng-khí mát trong thanh.

Mắt nhìn trời xanh vút tận cao xanh,

Tâm dõi nắng vàng tươi, ôi tuyệt đẹp!

 

Xuân, Thu chuyển tiếp,

Cảnh vật tương giao.

Nhựa sống dâng trào,

Môi-sinh hòa-hiệp.

 

Cuối tháng Ba như hơi xuân đã tiếp,

Lạnh vẫn còn, cảnh vật biết xuân sang.

Gió hiu hiu, mây trắng lửng lơ tràn,

Tuyết dìu dịu nhẹ tan rồi biến dạng.

 

Nhìn thấu mỗi búp cây như choạng vạng,

Ánh sáng lòa tung bật lá hoa xinh.

Hoa từ từ khoe nở chật đầy cành,

Quả thành vội, lá xanh trùm tỏa rộng.

 

Đây hiện thực, đây không là mơ mộng,

Trắng bạt ngàn, nay xanh mát ngàn nơi!

Chim muôn màu tỏ ríu rít muôn lời,

Xuân đã đến, chung vui xuân bất diệt!

 

Tràn mặt đất, hoa muôn màu diễm tuyệt,

Khắp phố phường la liệt áo hoa xinh.

Người và người qua sắc diện thanh-bình,

Cây cỏ nhuộm nắng Hè thêm tăng trưởng.

 

Nắng Hè dịu, Thu sang đâu có lượng,

Trời xanh xanh, mây trắng lững lờ trôi.

Gió hiu hiu dìu cánh lá chơi vơi,

Thả nhè nhẹ trên mặt hồ trong vắt.

 

Vàng, đỏ, tím buông hình trong ánh mắt,

Bút nào ghi, cảnh vật tuyệt, tuyệt vời.

Qua thiên nhiên lưu lại bức tranh đời,

Lộng lẫy thật, gắng sao không thành, hoại!

 

Muôn hình muôn loại,

Nương tựa duyên sinh.

Vẳng lặng trong thanh,

Tuyệt không nội, ngoại.

 

Xuân, Hạ, Thu, Đông không vướng ngại,

Đáy lòng trong, đạo sáng hiện thăng hoa.

Dâng cho đời một cảnh giới an hòa,

Do tâm niệm từ bi và hỷ xả.

 

Tùy nghiệp-lực, nghiệp-duyên cùng nghiệp-quả,

Nghiệp chung, riêng ta gắng trọn hoàn thành.

Cảnh chân-không nhẹ bước, bước thênh thênh,

Nhìn cảnh giới Sa-Bà thành Cực-Lạc.

 

Canada, chưa hẳn là bài thơ tuyệt tác,

Còn nằm trong cảnh giới của nhân-sinh.

Bao năm qua Liên-Hiệp-Quốc tường trình,

“Nhiều điểm tốt”, ta vui mừng trân quý!

 

Mong mãi mãi, Canada vẫn là viên ngọc quý,

Phát triển đều văn hóa của nhiều dân.

Cùng một lòng, một dạ, một tinh-thần,

Cùng xây dựng thanh-bình cho nhân-loại!

Montreal: 12-8-2001

 

45.- XUÂN VỀ CHÂU ÚC

 

Xuân châu Úc, mỗi lần hoa trọn nở,

Sáng Đạo Vàng, lay động gót vân-du.

Lướt trường-không, thôi thúc đáy tâm từ,

“Quên tất cả”, mong “tròn đầy tất cả”.

 

Chim ríu rít, ươm mình trong gió thơm hoa lá,

Nắng oi vàng, reo gọi tỉnh mầm sinh.

Vạn pháp huyền-linh, dù hữu hay vô tình,

Trên lẽ sống, đều hướng về xây dựng.

 

Đạo-giáo, quốc-gia trải bao năm chịu đựng,

Dân Thái-Bình, Xuân-Lộc đã vùng lên.

Khắp trong ngoài đều ủng-hộ vang rền,

Đồng nhất trí và trường kỳ “quyết thắng”.

 

Chùa cảnh đây dù đã nhiều cố gắng,

Vẫn còn nhiều trở ngại chửa vượt qua.

Quyết dấn thân cho lý-tưởng Phật-Đà,

Xây nền móng, sớm hoàn thành đại-nghiệp.

 

Biết sự vật kinh qua vô lượng kiếp,

Lồng vô thường, vô ngã và duyên sinh.

Chuyển sắc, tâm thành an-lạc, thái-bình,

Hòa vũ-trụ trong dòng xuân bất diệt.

Chùa Phật-Đà: 30-11-1997

 

46.- TRĂNG NƯỚC

 

Trăng, nước - thời, không - xa cách nhau,

Thoảng qua ảo-giác há mong cầu.

Cầu mong nắm bắt vầng trăng thật,

Thật tại chân-không thể nhiệm-mầu.

 

Cầu mong dụng ý biết bao thành,

Gió thoảng tầng không, mây lượn quanh.

Mài gạch làm gương (1), gương chẳng hiện,

Công-phu trôi nổi, đọng nghi-tình.

 

Gắng sức, vô tâm trong tự-nhiên,

Ngày đêm miên-mật chẳng ưu-phiền.

Lâng lâng hiện-tượng trùm muôn vật,

Hóa-giải thiên-nhiên nhập ý thiền.

 

Trăng vẫn là trăng giữa thái không,

Nước như muôn thuở vẫn xuôi dòng.

Bồ-đề bóng rủ tâm an-tịnh,

Trăng nước hòa trong thể-tính chung.

Tổ-Đình: 15-05-1999

(1) Đây là câu chuyện về thiền: “Khi Sa-môn Đạo-Nhất ở Truyền-Pháp-Viện, hằng ngày sư vẫn ngồi thiền. Thiền-sư Nam-Nhạc hỏi: “Đại-Đức ngồi thiền mong cầu gì? - Cầu thành Phật. Thiền-sư Nam-Nhạc lẳng lặng đi lấy viên gạch đem đến trước cửa am của Sư Đạo-Nhất, gồi trên tảng đá mài viên gạch ấy. Sư Đạo-Nhất hỏi: Ngài mài làm gì? – Tôi mài làm gương”. Sư Đạo-Nhất nói: Gạch làm sao thành gương được”. Ngài Nam-Nhạc nói: “Vậy sư ngồi thiền làm sao thành Phật được”. Đại ý nói là không nên chấp tướng.

 

47.- CHÍN MỘT MỘT

(911: số điện-thoại khẩn cấp tại Mỹ)

 

Từ thuở trước, khi gặp cơn tai-biến,

Thuộc nằm lòng “Chín Một Một”: cứu nguy.

Điện-thoại reo, Cảnh Sát tới ngay thì,

Giúp dân-chúng giữ an-ninh, trật-tự.

 

Con số ấy, nay ứng điềm quái-dị,

Tháng chín rồi ngày mười một vừa qua.

Nữu-Ước thành, khói bụi tỏa mịt mờ,

Đài Năm Góc, xuyên thủng qua một góc.

 

Không phải thiên-tai,

Không do công-trình tạo tác,

Do ác-tâm bọn không-tặc gây ra.

Hai phi-cơ đâm thẳng hai tòa nhà,

Một cái khác húc vào tòa Ngũ-Giác (1).

 

Cái khác nữa, do bọn người quái-ác,

Định nhào vào tòa Bạch-Ốc tan thây.

Khách hàng không quyết liều mạng ra tay.

Máy bay cháy một nơi gần Pít-bớc (Pittsburgh).

 

Cả thế-giới bị bàng-hoàng, chua-xót,

Mấy ngàn người bị tai-nghiệp chết oan!

Tai ương này giáng xuống thật kinh hồn,

Sao ác thế! Sao lên trời như hứa hẹn! (2)

 

Thế-kỷ mới lương tâm sao không thẹn,

Đem dân lành trả thù oán đâu đâu!

Gây tang thương, gây uất-hận, khổ đau,

Oán trả oán, lầm than bao xiết kể!

 

Phật, Bồ-tát mong ra tay tế thế,

Đem từ-bi hàn gắn vết thương đời.

Cho dân lành được no ấm thảnh thơi,

Cho thế-giới được an-bình, thịnh-vượng.

Canada: 13-09-2001

(1) Hai tòa nhà của Trung-tâm thương mại thế-giới (World Trade Center)  tại New York, mỗi tòa cao 110 tầng. – Ngũ-giác-đài (Pentagon): cơ sở của Bộ Quốc Phòng, vùng Washingotn D.C.

(2) Bọn người cuồng-tín Hồi-giáo họ tin rằng: “Giết được kẻ ngoại-đạo, được sinh lên trời cùng với đấng Allad”.

 

48.- VIỆT-NAM HOA-VIÊN KIẾN-TẠO TỪ

 

Việt-nam Cộng-Sản cực tham tàn,

Tỵ nạn nhân-dân tẩu khán than!

Tử biệt, sinh ly thiên vạn thái,

Sắc-thân uổng ký hải, lâm hàn!

 

Ngũ châu sinh-hoạt đại gian-truân,

Tư thổn mưu sinh quyết tử-thần.

Quốc thổ mưu sinh kỳ vọng báo,

Văn-phong Việt-tộc vĩnh lưu quần.

 

Thử địa tương đồng các địa phương,

Hữu-vi tinh triển ký viên trường.

Tục, chân nhất thể vô phân biệt,

Hình thức, tinh thần cộng biểu dương.

 

Việt hải nạn dân thướng hải tân,

Tự do lân cảm biểu tinh thần.

Hùng-Vương liệt sĩ Văn-Lang quốc,

Đức tướng trường minh giám hậu nhân.

 

Tội, phúc liễu tri, trí giác thành,

Phật-Đà đạo mạch nhuận nhân sinh.

Động-tâm Phật-tích tinh-thần tại,

Tự tháp lưu quang xán đạo trình.

 

Quán-Âm thị-hiện đại-bi-hồ,

Tái tạo sinh-linh hòa-lạc cơ.

Tuệ-Tĩnh Thiền-Sư thi dược pháp,

Thân tâm bệnh não nhập hư vô.

 

Vân thủy hồ trung chiếu cảnh tình,

Tứ phương dao vọng cố hương danh.

Bắc-Ninh liên đái Đông-Hà tỉnh,

Đẳng dữ Tây-Sơn, Nam-Việt đình.

 

Việt-Nam đồ bản xán chân-dung,

Kinh kỷ thiên niên tráng khí hùng.

Đông-Hải, Trường-Sơn oanh-liệt tích,

Vạn niên như tại hiển uy phong.

 

Văn-lâu biểu hiệu Việt tinh-anh,

Huyết hãn, năng tri, trí tập thành.

Linh động hoa văn tinh tượng ảnh,

Thiên nhiên dao hưởng dữ điêu hình.

 

Tam quan ngật lập tráng nghiêm phong,

Tường biểu an hòa đạo, cảnh trung.

Lũy kiếp hiện thân từ tế hạnh,

Việt-nam danh thắng quải linh-tung.

 

Lãng-đãng vân phong hòa lạc thiên,

Tâm tâm tương cảm cảnh như nhiên.

Thời, không gian ảnh vô biên hiện,

Văn-thụ linh quang ấm vạn niên.

 

Trí-đạo, Hùng-quang kinh trác ma,

Hậu lai y bỉ dĩ thăng hoa.

Du-nhân thưởng ngoạn tri âm hưởng,

Thường tại xuân viên thử địa ba.

Úc-châu, Nhị thiên niên,

Nguyên nguyệt, sơ nhất nhật

Tâm-Châu Đại-Sư soạn

 

XÂY DỰNG HOA-VIÊN VIỆT-NAM

 

Vì Cộng-Sản quá tham tàn, bạo ngược,

Dân Việt-Nam lũ lượt phải ra đi.

Hàng triệu người trong tử biệt, sinh ly,

Vùi thể xác nơi rừng sâu, biển cả.

 

Khắp năm châu bị gian-truân vất vả,

Lo mưu sinh, lo giữ vững tinh-thần.

Đáp đền ơn đất nước được dung thân,

Nuôi dưỡng mãi văn-phong dòng giống Việt.

 

Tại nơi đây không có chi khác biệt,

Đem tinh-thành ghi công-đức hữu-vi.

Đạo và đời một thể chẳng phân ly,

Trên lẽ sống, hòa tinh-thần, hình-thức.

 

Kìa tượng đài người vượt biên tới đất,

Đất tự do với tất cả thân thương.

Tượng vua Hùng, tượng liệt-sĩ kiên cường,

Gương chói sáng trong dựng xây và giữ nước.

 

Thêm hiểu biết, thêm biết đường tội, phước,

Đạo Phật-Đà thêm nhựa sống cho người dân.

Bốn động-tâm biểu tượng nét tinh-thần,

Cùng chùa tháp qua bao năm dựng đạo.

 

Quán-Âm hiện, hồ Đại-Bi kiến tạo,

Ban an-hòa, tái tạo lợi Nhân, thiên.

Tuệ-Tĩnh xưa, phương thuốc đượm hương thiền,

Lành thân bệnh và an vui tâm-bệnh.

 

Vân-Thủy-hồ lung-linh soi thực cảnh,

Bốn phương mang danh hiệu tỉnh, miền ta.

Bắc-Ninh cùng Nam-Việt có đâu xa,

Đông-Hà với Tây-Sơn bao nghĩa nặng.

 

Bản đồ Việt mang chân-dung xán-lạn,

Mấy ngàn năm vang hồn-sử anh hùng.

Với Trường-Sơn, với Đông-Hải vẫy vùng,

Là dấu ấn muôn muôn năm bất diệt.

 

Lâu-đài nọ, nâng niu văn hóa Việt,

Bao mồ hôi, bao trí óc vun thành.

Với hoa-văn, với điêu-khắc tượng hình,

Nét cẩm-tú cùng thiên-nhiên trác tuyệt.

 

Cổng tam quan đứng uy-nghiêm siêu-việt,

Tường an hòa, mang cảnh, đạo thanh-cao.

Bao hiện-thân của lẽ sống thuở nào,

Bao thắng cảnh Việt-Nam đây ghi tạc.

 

Gió mây quyện tràn khung trời an-lạc,

Lòng cùng lòng hòa cảnh giới thiên nhiên.

Thời, không-gian tự-tại hóa vô biên,

Cây văn-hóa muôn đời hằng che rợp.

 

Đạo bi-trí, gương dựng xây oanh-liệt,

Cháu con sau nương đó để thăng hoa.

Khách du-phương qua viếng cảnh, hiểu ta,

Hoa-viên mãi là mùa xuân thường tại.

Tu-Viện Phật-Quang,

Melbourne: 01-01-2000

 

49.- TRẬN TUYẾT CUỐI MÙA

 

Đầu tháng Tư, năm Hai Ngàn dương-lịch,

Còn mang cho một trận tuyết cuối mùa.

Suốt không gian hoa trắng rải như mưa,

Trùm cảnh vật một màu tơ óng ánh.

 

Cây trụi lá lung-linh màu điện ảnh,

Ánh lưu-ly trong sáng đẹp kiêu hùng.

Chim trắng bay hòa hoa trắng mông lung,

Gió phơ phất giúp vui cùng sự vật.

 

Người trải  bộ, xe lăn trên mặt đất,

Dán thêm mình một lớp vẽ thiên nhiên.

Không khí lành, lắng dịu mọi ưu phiền,

Lòng thầm nghĩ, năm nay hơi là lạ!

 

Lạ có lẽ, lẽ như nhiên, không sao cả,

Tâm an bình, nhẹ bước, bước thênh thang.

Chung sức xây một cảnh giới thiên đàng,

Cùng vui sống, tạo phước-duyên an lạc!

Montreal, tháng 04 năm 2000

 

50.- CÁNH HOA TÂM

 

Lồng lộng thái-hư,

Mông mênh sa-giới.

Chờn vờn vi vật,

Tĩnh lặng suy tư.

 

Dáng tâm hoa,

Muôn cánh,

Nở chu tuyền.

 

Hoa tâm muôn cánh diệu huyền,

Núi sông cây cỏ góp duyên thuở nào.

Lưng trời lấp lánh trăng sao,

Mây bay gió thổi ngạt ngào nguồn sông.

Mưa rơi nắng dãi xanh đồng,

Chim muông hả mộng phiêu bồng tiêu dao.

Nhân sinh trọn chí anh hào,

Tùng xanh sương tuyết tuôn trào khí thiêng.

Lồng trong pháp-giới vô biên,

Nhịp nhàng tự tại chân thiền thăng hoa.

Hoa tâm hương ngát Sa-Bà,

Hoa tâm hiện bóng Di-Đà nơi đây.

Hoa tâm gạn hết vơi đầy,

Hoa tâm bừng sáng muôn loài chung vui.

Hoa tâm dâng trọn cho người,

Cùng chung xây dựng cảnh đời như nhiên.

Montreal, mùa Thu năm 2000

 

 

TÂM HƯƠNG

Phỏng dịch một số bài thơ của Tuệ-Trung Thượng-Sĩ. Những bài thơ được phát xuất từ thiền-tâm, đầy thiền-vị, lưu lại hương thơm cho muôn thuở.

 

 

1.- KIẾN GIẢI (1)

(Thấy biết)

 

Kiến-giải trình kiến-giải,

Tự niết mục tác quái.

Niết mục tác quái liễu,

Minh minh thường tự-tại.

 

Nơi mình, kiến-giải trình ra,

Đưa tay chà mắt đốm hoa hiện bày.

Lạ lùng, chà mắt, buông tay,

Tính chân tự-tại rạng ngời thường như.

 

(1) Đại ý: Kiến-giải (Darsana): Ấn-Độ gọi là triết-học. Có nghĩa là sự thấy biết, sự nghiên-cứu sâu xa đến căn bản chân-lý của sự sự, vật vật. Tức là sự hiểu biết phân biệt chân, giả, đúng, sai, hay, dở đối với sự vật. Đây là một thi kệ, trình bày sự thấy biết của Tuệ-Trung Thượng-Sĩ. Tuệ-Trung Thượng-Sĩ tên thực là Trần-Tung, con trai Trần-Liễu, anh ruột Trần-Quốc-Tuấn và là anh vợ vua Trần-Thánh-Tông là Hoàng-Hậu Nguyên-Thánh Thiên-Cảm. Vua Trần-Thái-Tông phong cho ông tước Hưng-Ninh-Vương. Khi còn nhỏ, ông đã hâm mộ cửa Phật. Tính tình thanh cao, thuần hậu. Ông tham học nơi Thiền-Sư Tiêu-Dao ở Phúc-Đường. Ông trực tiếp cầm quân chống quân Nguyên-Mông. Ông làm Tiết-Độ-Sứ ở Thái-Bình. Ít lâu sau ông về lui ở ấp Tịnh-bang, lập Dưỡng-Chân-Trang và tiếp tục tham cứu đạo Phật. Vua Trần-Thánh-Tông thường thường tham cứu thiền-học nơi ông. Nhà vua rất khâm phục, ban cho ông hiệu “Tuệ-Trung Thượng-Sĩ”. Bài thi-kệ “Kiến-Giải” của ông nẩy sinh trong trường hợp trai-tăng trong Hoàng-cung. Nhân, vua Trần-Thánh-Tông làm lễ trai-tăng, thỉnh các bậc danh-tăng và Thượng-Sĩ vào cung cúng dường, cầu siêu cho Hoàng-Hậu đã mất. Trai-tăng xong, nhà vua xin mỗi vị một bài thi-kệ ngắn về kiến-giải của mình. Đến lượt Thượng-Sĩ, Thượng-Sĩ liền viết ngay bài thi-kệ này. Thi-kệ này, hàm ý, nói về nghĩa chân và vọng. Chân, như thực không thay đổi. Vọng, giả dối không thực, hay thay đổi. Mắt vẫn sáng, lấy ngón tay ấn vào mắt, mắt hiện ra những hoa đốm trong hư-không. Khi tay không ấn nữa, mắt trở lại sáng như cũ. Đem sự thấy biết của mình trình bày, so sánh với sự thấy biết khác, chỉ là sự thấy biết vọng, chứ không phải chân! Vì còn có sự đối đãi!

 

2.- DƯỠNG CHÂN (1)

(Nuôi dưỡng chân-tính)

 

Suy táp hình hài khởi túc vân,

Phi quan lão-hạc tị kê quần.

Thiên thanh, vạn thúy mê hương quốc,

Hải giác thiên đầu thị dưỡng chân.

 

Hình hài suy yếu kể chi!

Hạc già đâu tránh gà ri cho đành!

Nước non muôn biếc, ngàn xanh,

Ven trời góc biển thỏa tình thiên-chân.

 

(1) Đại ý: Tuổi về già, sự nuôi dưỡng tính thiên-chân là điều quan-trọng. Tuổi già, suy yếu bệnh tật phát sinh, làm sao kể hết được. Thói đời, khi còn trẻ oai phong lẫm liệt, như chim hạc đứng giữa đàn gà, gà phải kính nể. Nay tuy thân già, suy yếu, đâu phải tránh né đàn gà! Cũng như, không phải vì muôn biếc ngàn xanh, làm quên mất quê hương mình. Nhưng, muốn nuôi dưỡng tính thiên-chân, nên tìm an tịnh ở những nơi góc biển, chân trời.

 

3.- THỦ NÊ NGƯU (1)

(Gìn giữ trâu bùn)

 

Nhất thân độc thủ nhất nê-ngưu.

Đằng tỵ khiên lai vị khẳng hưu.

Tương đáo Tào-Khê đô phóng hạ,

Mang mang thủy cấp đả viên cầu.

 

Trâu bùn, đơn độc giữ chăn,

Thừng xuyên mũi, dắt khăng khăng không sờn.

Tào-Khê, buông thả không còn,

Nước mêng mang chảy, cầu tròn đá chơi.

 

(1) Đại ý: Nê-Ngưu: con trâu dầm xuống vũng nước lấm bùn. Đây chỉ cho vọng tâm. Muốn giữ cho chân-tâm khỏi thành vọng-tâm, hằng ngày phải gìn giữ nó, như là con trâu dữ tợn, bướng  bỉnh, hay phá lúa mạ nhà người. Chăn trâu phải xỏ mũi lôi nó về, luyện cho nó thuần thục rồi,    dắt về Tào-Khê thả nó ra. Tào-Khê là một địa-danh thuộc tỉnh Quảng- Đông, Trung-Hoa, xưa kia có chùa Bảo-Lâm, nay là chùa Nam-Hoa, nơi phát xuất dòng thiền của Lục-Tổ Huệ-Năng. Trâu không cần chăn dắt, tâm không còn tạp vọng, khi ấy, dù trong sinh tử như dòng nước chảy, vẫn an nhiên tự tại, đá cầu. Nước chảy đá cầu là do câu chuyện: Một hôm có vị Tăng hỏi ngài Triệu-Châu: “Con nít có 6 thức không? Ngài trả lời: “Đá cầu trên dòng nước chảy”. Cố khắc phục      vọng-tâm. Vọng-tâm điều phục được rồi là an nhiên tự tại.

 

4.- PHỎNG TĂNG-ĐIỀN ĐẠI-SƯ (1)

(Viếng Đại-Sư Tăng-Điền)

 

Bất yếu chu môn, bất yếu lâm,

Đáo đầu hà xứ bất an tâm.

Nhân-gian tận kiến thiên sơn hiểu,

Thùy thính cô-viên đề xứ thâm?

 

Cần chi cửa tía, rừng xanh,

Nơi này, chốn nọ đều dành an-tâm.

Nghìn non, thấy rõ không lầm,

Vượn kêu rừng thẳm, ai tầm chăng ai?

 

(1) Đại ý: Khắc phục được vọng tâm rồi, ở đâu tâm cũng yên, không cần phải ở nơi thành thị, cửa tía lầu son, hay nơi rừng sâu núi thẳm. Người đời dính mắc vào ngoại cảnh, cái gì cũng thấy biết hết, nhưng không chịu hướng nội, nghe tiếng con vượn (tâm viên) nơi mình, nó réo gọi gì, để điều-phục nó, để đạt tới chỗ an tâm.

 

5.- VẤN PHÚC-ĐƯỜNG ĐẠI-SƯ TẬT (1)

(Thăm bệnh Đại-Sư Phúc-Đường)

 

Phong thủy đáo thì ba hốt động,

Hỏa tân giao xứ diệm tài sinh.

Phương chi tứ đại nguyên vô tế,

Nhất nhậm duyên lưu Kiếm-Các hành!

 

Tới khi gió thổi, sóng dồi,

Củi khô gặp lửa sáng ngời bùng lên.

Mới hay bốn đại vô biên,

Non cao Kiếm-Các mon men mặc tình!

 

(1) Đại ý: Đây là nói về việc thăm bịnh Đại-Sư Tiêu-Dao ở tịnh-xá Phúc-Đường. Vì tôn-trọng danh-đức của Thầy, mượn tên tịnh-xá thay cho pháp-danh Thầy, nên gọi là “Phúc-Đường Đại-Sư.” Sắc-thân có 4 đại: đất, nước, lửa, gió. 4 đại hòa thì sắc thân khỏe, 4 đại bất hòa thì sắc thân bịnh. Gió, nước không hòa, sóng nổi lên, lửa (hỏa) và củi (địa) gặp nhau, lửa bùng cháy. Bốn đại không những chúng có trong sắc thân con người, mà chúng trùm khắp cả sự vật, rộng lớn vô cùng. Biết bốn đại là bất hòa, là vô thường, là rộng lớn, dù leo lên ngọn núi sắc bén như núi Kiếm-Các cũng không ngại. Núi Kiếm-Các là tên dãy núi ở huyện Kiếm-Các, tỉnh Tứ-Xuyên, Trung-Hoa.

 

6.- HÝ TRÍ-VIỄN THIỀN-SƯ (1)

KHÁN KINH TẢ NGHĨA

(Đùa Thiền-Sư Trí-Viễn xem kinh giảng nghĩa)

 

Mặc vị hương-nhĩ, bút vi can,

Học hải phong-ba lý điếu thuyền.

Trân-trọng Viễn-Công tần hạ điếu,

Hội nanh-long thướng thị lư niên?

 

Mực: mồi thơm, bút: cần câu,

Xốn-xang biển học, mong cầu thả câu.

Viễn-Công, câu chẳng kể lâu,

Năm lừa mới gặp rồng chầu phải không?

 

(1) Đại ý: Đây là một bài thơ Tuệ-Trung Thượng-Sĩ đùa ngài Trí-Viễn. Thượng-Sĩ cho rằng, lấy mực làm mồi thơm, lấy bút làm cần câu, chèo thuyền câu trong biển Phật-pháp, liệu có được gì không. Ngài Trí-Viễn thường làm việc ấy, mong câu được con rồng dữ, song, đợi đến bao giờ, đến năm con lừa chăng? Khốn nỗi, trong 12 con giáp, không có năm nào là năm con lừa cả. Có nghĩa là không được gì.

 

7.- ĐIỆU TIÊN SƯ (1)

(Thương tiếc Thầy xưa)

 

Nhất khúc Vô Sinh xướng liễu thì,

Đảm hoành tất-lật cố hương quy.

Thượng đầu đả quá hồ hà hữu,

Nhất cá nê-ngưu nhậm đảo ky (kỵ).

 

Hát xong một khúc Vô Sinh,

Cầm ngang cây gậy thỏa tình về quê.

Trên qua, qua có cái gì,

Trâu bùn cưỡi ngược hả-hê mặc tình.

 

(1) Đại ý: Đây là lời truy-điệu Thiền-Sư Tiêu-Dao, Thầy của Thượng-Sĩ viên-tịch. Thầy ngài hát xong khúc Vô Sinh (không còn sinh tử), cầm ngang cây gậy về quê hương. Đi đến nơi nào? Cỡi con trâu bùn đi ngược lên đỉnh núi nọ, đỉnh núi kia. Câu chuyện này dẫn tích ngài Am-chủ Tường ở Liên-Hoa-Phong, thuộc tông Vân-Môn. Khi ngài Am-chủ Tường sắp tịch, ngài cầm cây gậy để ngang vai nói: “Vai vác cây gậy này, không đoái đến người, đi thẳng vào ngàn, muôn đỉnh núi”. Nói xong, ngài tịch.

 

8.- THỊ CHÚNG (1)

(Bảo đồ chúng)

 

Thế-gian nghi vọng, bất nghi chân,

Chân, vọng chi tâm diệc thị trần.

Yếu đắc nhất cao siêu bỉ ngạn,

Hiếu tham đồng-tử diện tiền nhân.

 

Thế-gian ưa vọng, ghét chân,

Tâm chân, vọng ấy, bụi trần… kể chi!

Vượt cao sang bến bên kia,

Hãy tham con trẻ bây giờ, tại đây!

 

(1) Đại ý: Thế-gian ưa vọng, ghét chân. Nhưng, chân hay vọng cũng đều là nhận thức của trần cả. Nay muốn vượt sang bờ bên kia, hãy tham hỏi con trẻ ngay trước mặt người, tức là hãy khơi mở giác-tính sẵn có nơi mỗi người.

 

9.- THỊ HỌC (1)

(Bảo học-chúng)

 

Học giả phân phân bất nại hà,

Đồ tương linh đích khổ tương ma.

Báo quân hưu ỷ tha môn hộ,

Nhất điểm xuân-quang xứ xứ hoa!

 

Rối bời, đạo học khôn lường,

Gắng công mài gạch thành gương, mệt đời.

Khuyên anh đừng dựa cửa người,

Ánh xuân vụt tới, hoa cười nơi nơi!

 

(1) Đại ý: Biển học mênh mông, người nghiên cứu không biết đâu là đích, như người mài gạch thành gương. Mài gạch thành gương, đây chỉ vào việc ngài Nam-Nhạc Hoài-Nhượng Thiền-Sư đem gạch mài, muốn thành gương, để khuyên ngài Đạo-Nhất đừng chấp tướng. Vậy khuyên ngài hãy tự mình, đừng dựa vào cửa người. Tự mình có giác-tính, như cây đã sẵn có mầm hoa trong đó, thời tiết đến mình sẽ ngộ, hoa sẽ nở.

 

10.- NGẪU TÁC (1)

(Chợt hứng)

 

Đường trung đoan-tọa tịch vô ngôn,

Nhàn khán Côn-Luân nhất lũ yên.

Tự thị quyện thời tâm tự tức,

Bất quan nhiếp niệm, bất quan thiền!

 

Ngồi yên, không nói, giữa nhà,

Thảnh-thơi nhìn sợi khói nhòa Côn-Luân.

Tâm an, an lúc mệt lần,

Đâu cần nhiếp niệm, tham thiền làm chi!

 

(1) Đại ý: Ngồi trang-nghiêm giữa nhà, không nói năng gì, nhìn lên núi Côn-Luân thấy ít khói bay lên. Nhìn lâu hơi mệt, tâm an ngủ mất. Tâm đã an, không cần phải nhiếp niệm, tham thiền.

 

11.- GIẢN ĐỂ TÙNG (1)

(Cây tùng dưới khe)

 

Tối ái thanh-tùng chủng kỷ niên,

Hưu ta địa-thế sở cư thiên!

Đống-lương vị dụng nhân hưu quái,

Dã thảo nhàn hoa mãn mục tiền.

 

Tùng xanh yêu quý mấy năm,

Đừng than địa-thế không nhằm triết trung!

Lạ chi, rường cột chưa dùng,

Hoa nhàn, cỏ nội khắp vùng đẹp xinh!

 

(1) Đại ý: Rất thích cây tùng trồng dưới khe đã được mấy năm. Tuy không phải địa thế xứng đáng, song, cũng đừng nên than thở. Người ta đừng lấy làm lạ là cây tùng này chưa làm rường cột được. Nhưng trước mắt đầy những hoa thơm cỏ lạ cũng vui lắm rồi!

 

12.- XUẤT TRẦN (1)

(Ra khỏi cảnh trần)

 

Tằng vi vật-dục dịch lao-khu,

Bãi-lạc trần-hiêu thế ngoại du.

Tán thủ ná biên siêu Phật Tổ,

Nhất hồi đẩu-tẩu, nhất hồi hưu.

 

Tấm thân, vật-dục cuốn lôi,

Xa rời trần-cảnh, rong chơi cõi ngoài.

Bên kia Phật Tổ thảnh-thơi,

Một thời gột rửa, một thời an vui.

 

(1) Đại ý: Người từng bị vật-dục lôi cuốn, sai khiến, làm cho thân phải mệt nhọc. Muốn thoát khỏi trần-lao, rong chơi nơi cảnh ngoài, phải buông bỏ sự huyên náo của cảnh trần. Buông tay, vượt sang cảnh giới của chư Phật, chư Tổ. Vậy thì, phải cố gắng gột rửa phiền-não, mỗi lần gột rửa là một lần an vui.

 

13.- CHÍ ĐẠO VÔ NAN (1)

(Chí đạo không khó)

 

Chí đạo vô nan, mạc đạo nan,

Hồi đầu chuyển não giác man can.

Tương tâm khước hướng cầu tâm tiệm,

Đại tự niêm ngư thướng trúc can.

 

Đừng cho chí-đạo khó-khăn,

Vò đầu nặn óc miên-man biết gì.

Đem tâm loạn, hướng tâm mê,

Cá măng vượt ngọn cành tre khác gì!

 

(1) Đại ý: Chí đạo không khó, đừng bảo là khó. Vì nó ở ngay trước mắt, ngay trong tâm ta. Nếu cứ quay đầu vặn óc để tìm kiến-giải thì càng mờ mịt. Đem vọng tâm tìm chân tâm, không khác gì con cá măng muốn vượt qua ngọn tre.

 

14.-  TÂM VƯƠNG (1)

 

Tâm-vương vô tướng diệc vô hình,

Nhãn tự ly-châu dã bất minh.

Dục thức giá ban chân-diện-mục,

Ha ha, nhật ngọ đả tam canh!

 

Tâm-vương, không tướng, không hình,

Sáng như ngọc báu cũng đành như không.

Muốn hay mặt mắt viên-dung,

Canh ba chuyển lại như chừng giữa trưa!

 

(1) Đại ý: Tâm vương đây chỉ cho chân-tâm. Chân-tâm không có hình tướng. Không có hình tướng nên dù mắt ngọc ly-châu cũng không thể thấy được. Muốn biết được mặt mắt thật của nó, cần chuyển tối thành sáng, chuyển canh ba thành giữa trưa.

 

15.- PHÓNG NGƯU (1)

(Thả trâu)

 

Ngẫu hướng Quy-Sơn đắc đệ lân,

Hoang vu cam tác mục ngưu nhân.

Quốc vương đức trạch khoan như hải,

Tùy phận ta ta thủy thảo xuân.

 

Quy-Sơn, may dự cùng hàng,

Chăn trâu, vui với đồng hoang ven trời.

Ơn vua rộng tựa biển khơi,

Chút xuân cỏ nước an vui phận mình.

 

(1) Đại ý: Tuệ-Trung Thượng-Sĩ may mắn được dự cùng hàng với Thiền-Sư Đại-Viên ở núi Quy-Sơn. Được làm người chăn trâu ở nơi đồng hoang. Câu chuyện chăn trâu: một hôm, ngài Đại-Viên ở núi Quy-Sơn bảo chúng rằng: “Tôi ở Quy-Sơn này đã 30 năm, tôi chỉ coi chừng con trâu đen, không để cho nó ăn lúa mạ của người. Nay nó đã thuần thục, chuyển đen thành trắng, đuổi nó cũng không đi nữa”. Chăn trâu tức là luyện tâm. Tâm này đã thuần-thục. Trên quốc-độ này, đức của quốc vương như biển rộng. Tùy theo phận, đều được hưởng lộc như cỏ nước của mùa xuân. Không tham, không cầu, an bần lạc đạo.

 

16.- ĐỀ TINH XÁ (1)

 

Đạp trước quan đầu vị sát na,

Tung hoành phóng ngữ trát già-đà.

Niên lai bút chủy vô đoan thậm,

Tam giới Như-Lai bất nại hà.

 

Cửa chùa bước tới phút giây,

Dọc ngang bài kệ phóng ngay ngay liền.

Xuân qua ngọn bút như điên,

Như-Lai ba cõi thi-duyên không cần!

 

(1) Đại ý: Vừa bước tới cửa chùa độ chốc lát, đã làm xong ngay một bài thi-kệ. Xuân sang, ngọn bút sao quá sắc bén! Chư Phật trong ba đời không làm như thế! Già-đà có nghĩa là kệ-tụng hay thi-kệ.

 

17.- NGẪU TÁC (1)

(Chợt hứng)

 

Mộng khởi hoàn tu tử tế khan,

Đầu cơ xúc mục mạc man can.

Túng nhiên ngũ nhãn thông minh tại,

Vị miễn hô chung ủng tác khan.

 

Tỉnh mơ nên phải xét suy,

Hợp cơ vừa mắt, đừng gì linh-tinh!

Dù cho ngũ nhãn thông minh,

Nhìn chuông lại tưởng chum sành như ai!

 

(1) Đại ý: Sau khi mơ đã tỉnh, nên xem xét kỹ-lưỡng. Gặp cơ duyên gì va chạm tới cảnh trần, không nên mê mờ vướng mắc nữa. Dù cho người đã được ngũ nhãn: nhục-nhãn, thiên-nhãn, huệ-nhãn, pháp-nhãn và Phật-nhãn, có thể còn bị che khuất, nhìn cái chuông thành cái chum sành!

 

18.- CHIẾU THÂN (1)

(Soi lại thân mình)

 

Tiêu đầu lạn ngạch bị kim bào,

Ngũ thất niên gian thị xưởng tào.

Túng dã siêu quần kiêm bạt tuỵ,

Nhất hồi phóng hạ nhất hồi cao.

 

Áo bào: phỏng trán, cháy đầu,

Bảy, năm năm ấy ngựa trâu kiếp người!

Là trang xuất chúng hơn đời,

Một hồi xuống thấp, một hồi lên cao.

 

(1) Đại ý: Thế gian, được mặc áo kim-bào, phải lăn lộn đến cháy đầu, phỏng trán mới được. Năm bảy năm trường, soi lại thân mình, không khác gì kẻ làm thân trâu ngựa. Là người xuất chúng, xét được như vậy, mỗi lần bị xuống thấp, cần biết vượt lên cao.

 

19.- TỰ TẠI (1)

 

Đằng, thử vô đoan tiệm tiệm xâm,

Qui lai chung lão ký sơn lâm.

Sài môn, mao ốc cư tiêu sái,

Vô thị vô phi tự tại tâm.

 

Không đâu, dây, chuột gặm dần,

Già suy về lại núi  rừng an vui.

Cửa sài, nhà cỏ thảnh thơi,

Tâm thênh thang, mặc, mặc đời thị phi.

 

(1) Đại ý: Thân là vô thường, như ví dụ sau đây được trích dẫn trong kinh Đại-Tập. Đức Phật kể một câu chuyện: “Một hôm, có một người bị hai con voi đuổi gấp, người ấy chạy trốn. May thay, người ấy gặp được một cái giếng, người ấy nắm lấy cái giây trên miệng giếng, tuột xuống giếng để trốn. Không ngờ, trong thành giếng có bốn con rắn độc, bên trên có hai con chuột đen và trắng đang cắn dây, dưới giếng có ba con rồng đang phun lửa. Hai con voi tới trên miệng giếng, người ấy trông lên sợ quá. Tự nhiên có con ong bay qua, nhỏ vào người ấy năm giọt mật, người ấy quên hết. Hai con voi dụ cho sinh và tử. Cái dây dụ cho thân mệnh. Tuột xuống giếng dụ cho vô thường. Hai con chuột dụ cho ngày, tháng hay ngày và đêm. Bốn con rắn dụ cho bốn đại: đất, nước, lửa, gió. Ba con rồng dụ cho ba độc: tham, sân, si. Năm giọt mật dụ cho năm dục: sắc, thanh, hương, vị, và xúc. Biết rõ thân này là vô thường, không nên tham đắm dục lạc, ngày qua tháng lại dần dần đi đến già chết, như hai con chuột đến cắn cái dây, dây sẽ đứt. Vậy nên, ẩn cư nơi chốn sơn lâm, tuy nhà tranh, cửa gỗ sơ sài, tránh được thị phi, tâm được tự-tại.

 

20.- THỊ TU TÂY PHƯƠNG NGHIỆP (1)

(Bảo tu về Tây-phương tịnh-nghiệp)

 

Tâm nội Di-Đà tử mạ khu,

Đông, Tây, nam, Bắc pháp-thân chu.

Trường-không chỉ kiến cô-luân-nguyệt,

Sát-hải trừng trừng dạ mạn Thu.

 

Di-Đà kim sắc trong ta,

Bốn phương đây đó đều là Pháp-thân.

Trường-không một mảnh trăng vần,

Nước muôn biển lặng, trắng ngần đêm Thu.

 

(1) Đại ý: Khuyên tu tịnh-nghiệp, vãng sinh về cõi đức Phật A-Di-Đà là cõi Cực-Lạc ở phương Tây. Di-Đà có nghĩa là vô lượng quang, vô lượng thọ. Di-Đà tức Phật-tính. Tịnh-độ tức tâm tịnh. Người tu Tịnh-độ, tu đến nhất tâm bất loạn, tâm tịnh, thấy được Phật-tính, tức là thấy Phật Di-Đà. Tâm tịnh, bốn phương đều tịnh, đều là pháp-thân. Bầu trời có một mặt trăng. Đêm mùa Thu, nước các biển im lặng, bóng trăng Thu sẽ chiếu xuống rõ ràng. Mỗi người tâm tịnh, giác-tính sẽ hiển lộ.

 

21.- THOÁT THẾ (1)

(Thoát đời)

 

Phiên thân nhất trịch xuất phần lung,

Vạn sự đô lô nhập nhãn không.

Tam giới mang mang tâm liễu liễu,

Nguyệt hoa tây một, nhật thăng Đông.

 

Trở mình thoát lửa lao lung,

Mắt nhìn sự vật suốt cùng đều không.

Tâm thông ba cõi mênh mông,

Trăng Tây lẫn bóng, trời Đông lóe hồng.

 

(1) Đại ý: Muốn thoát ra cõi đời đầy phiền não, cần phải có chí quyết liệt, dám trở mình, nhảy vọt ra khỏi vùng lửa đang thiêu đốt. Đời vô thường, muôn sự đều vô thường. Thoát được, tâm thênh thang, ba cõi (cõi dục, cõi sắc, cõi vô sắc), mông mênh, an nhiên tự tại, thấy ánh trăng đẹp lặn phương Tây, mặt trời mọc phương Đông như thường.

 

22.- GIANG HỒ TỰ THÍCH (1)

(Vui thú giang-hồ)

 

Tiểu đĩnh trường giang đãng dạng phù,

Du dương trạo bát quá than đầu.

Nhất thanh hà xứ tân lai nhạn,

Trắc giác thu phong biến thập châu.

 

Trường giang, thuyền nhỏ lênh đênh,

Nhịp nhàng trèo lái qua ghềnh thảnh thơi.

Nhạn đâu vọng tiếng xa vời,

Gió Thu vụt lướt khung trời mười phương.

 

(1) Đại ý:  Tâm thanh thản, vui cảnh thiên nhiên. Trên chiếc thuyền nhỏ, lênh đênh giữa trường giang, phải lưu tâm, vượt qua những thác ghềnh. Nghe tiếng con chim nhạn, báo hiệu, gió Thu đã thổi khắp mọi nơi. Có nghĩa là, dù tâm đã tự tại, lúc nào cũng cần gìn giữ. Đời là vô thường, tâm cũng vô thường, qua Xuân, Hạ đã sang Thu rồi!

 

23.- THỊ ĐỒ ( 1)

(Bảo đồ chúng)

 

Niệm khởi, tâm tâm khởi,

Tâm vong, niệm niệm vong.

Dục tri đoan-đích-sự,

Thạch-hổ giảo kim-dương.

Thiên địa do đàn chỉ,

Sơn xuyên đẳng thấu thanh.

Tạm thời phong vũ động,

Kê hướng ngũ canh minh.

 

Niệm lên, tâm cũng dấy lên,

Tâm quên, niệm cũng theo liền quên ngay.

Muốn hay đoan-đích ý này,

Hồn-nhiên hổ đá nghiến day dê vàng.

Đất trời thu gọn tấc gang,

Núi sông như thể một làn hắng chơi.

Gió mưa khơi động tạm thời,

Canh năm gà gáy, muôn đời thế thôi!

 

(1) Đại ý: Tâm và niệm luôn luôn liên hệ với nhau. Niệm khởi thì tâm vương, tâm sở phát khởi. Tâm vương, tâm sở không theo thì niệm cũng diệt. Hai đằng đều vô tâm, không khác gì hai vật vô tri như hổ đá và dê vàng, có để bên cạnh nhau cũng như như. Đạt được vô tâm, đạt được giác-tính, đất trời cao rộng cũng như khảy ngón tay, núi sông ầm vang cũng như một tiếng đằng hắng. Nhập được giác-tính, dù còn ở đời, sự xao động của đời cũng chỉ là tạm thời. Giác-tính đã đạt, tự nhiên như canh năm thì gà gáy!

 

24.- AN ĐỊNH THỜI TIẾT (1)

(Thời-thiết an-định)

 

Sinh-tử do lai bãi vấn trình,

Nhân-duyên thời-tiết tự nhiên thành.

Sơn vân dã hữu xuất sơn thế,

Giản thủy chung vô đầu giản thanh.

Tuế tuế hoa tùy tam nguyệt tiếu,

Triêu triêu kê hướng ngũ canh minh.

A thùy hội đắc nương sinh diện,

Thủy tín Nhân, Thiên tổng giả-danh.

 

Nguyên do sinh-tử hỏi chi?

Nhân-duyên, thời-thiết tới thì tự nên.

Núi hang sẵn thế mây lên,

Nước khe không dội tiếng rền thác sa.

Năm năm hoa nở tháng ba,

Mỗi bình-minh dậy tiếng gà canh năm.

“Xưa nay diện-mục” không lầm,

Nhân, Thiên dù có, trong tầm giả-danh.

 

(1) Đại ý: Mọi việc ở đời đều do nhân duyên thời tiết. Có nhân, có duyên, đương nhiên có kết quả theo thời tiết an định của nó. Vì vậy, hễ có sinh thì có tử không cần bàn bạc, hỏi han gì cả. Như mây trên núi vẫn có thế ra vào của nó. Như nước khe chảy có tiếng của nước khe, không có tiếng gì xen vào. Như hằng năm hoa nở vào tháng ba. Như mỗi sáng, gà vẫn gáy vào canh năm. Nhưng, ai có hiểu được gương mặt người mẹ chân thật của mình từ xa xưa ( tức là hiểu được thể-tính chân thật của mình), mới tin là sắc-thân nhân, thiên đều là giả danh cả.

 

25.- NHẬP TRẦN (1)

(Vào cõi trần)

 

Thiều thiều khoát bộ nhập trần lai,

Hoàng sắc mi đầu đỉnh đỉnh khai.

Bắc lý ưu du đầu mã phúc,

Đông gia tán đản nhập lư thai.

Kim tiên đả sấn nê ngưu tẩu,

Thiết sách khiên trừu thạch hổ hồi.

Tự đắc nhất triêu phong giải đống,

Bách hoa nhưng cựu lệ xuân đài.

 

Xăm xăm bước tới cõi trần,

Đầu mi hoàng sắc lần lần mở ra.

Thai lừa lạc xuống Đông gia,

Rong chơi bụng ngựa xóm nhà Bắc phương.

Roi vàng giục đuổi trâu bùn,

Dây lôi hổ đá về vườn thảnh thơi.

Gió Đông thổi lạnh một mai,

Trăm hoa rộ nở trên đài xuân xưa.

 

(1) Đại ý: Do nghiệp lực nhân quả với cõi trần, nên xăm xăm vào cõi trần. Vào cõi trần với tư thế khác, không phải nghiệp lực hướng dẫn nên đầu mi có hình sắc óng ánh vàng tỏa ra một cách trang nghiêm. Còn bị nghiệp lực dắt dẫn phải sinh vào bụng ngựa ở xóm Bắc, hay sinh vào bụng lừa ở nhà Đông.Những người đạt đạo thì cầm cây roi vàng cưỡi trên lưng con trâu lấm bùn tiến lên, cầm cái dây sắt kéo con hổ đá về. Có nghĩa là người đã đạt đạo, ung dung tự tại, không còn bị sự vật gì làm chướng ngại. Người đạt đạo, tuy vào cõi trần cũng như các chúng sinh khác, nhưng một ngày nào đó, nhân duyên đến sẽ chứng đạo, như mùa đông giá lạnh, ngọn gió đông thổi tới, làm tan giá lạnh và trăm hoa đua nở trên đài xuân.

 

26.- VẠN SỰ QUY NHƯ (1)

(Muôn sự quay về như)

 

Tòng vô hiện hữu, hữu vô thông,

Hữu hữu vô vô, tất cánh đồng.

Phiền-não, bồ-đề nguyên bất nhị,

Chân-như, vọng niệm tổng giai không.

Thân như huyễn-kính, nghiệp như ảnh,

Tâm nhược thanh-phong, tính nhược bồng.

Hưu vấn tử, sinh, ma dữ Phật,

Chúng tinh củng Bắc, thủy triều Đông.

 

Từ không hiện có, dung-thông,

Có không, không có, cuối cùng như nhau.

Bồ-đề, phiền-não một màu,

Chân-như, vọng-niệm, chung bầu chân-không.

Thân, nghiệp: gương, bóng: huyễn đồng,

Tâm như gió, tính: cỏ bồng, đâu xa!

Hỏi chi sinh, tử, Phật, ma,

Muôn sao triều Bắc, nước đà suôi Đông.

 

(1) Đại ý: Muôn sự, muôn vật đều quy về lẽ như nhiên. Sự vật đều từ không thành có, có thành không. Có và không, phiền-não hay bồ-đề, chân-như hay vọng-niệm cũng đều ở trong lẽ chân-không. Thân như gương, nghiệp như bóng, tâm như gió, tính như cỏ bồng, đều là hai mặt của một thể. Cho nên, không nên hỏi gì về sinh, tử, ma, Phật, chỉ cần biết, chúng đều trong một thể, như trên bầu trời mọi sao đều hướng về phía Bắc, nước đều chảy xuôi về biển Đông.

 

27.- THẾ-THÁI HƯ-HUYỄN (1)

(Thói đời hư-huyễn)

 

Y cẩu phù-vân biến thái đa,

Du du đô phó mộng Nam-Kha.

Sương dung tẩy Hạ hà phương trạm,

Phong sắc lai Xuân mãi dĩ hoa.

Tây nguyệt trầm không nan phục ảnh,

Đông lưu phó hải khởi hồi ba.

Quân khan Vương, Tạ lâu tiền yến,

Kim nhập tầm thường bách tính gia.

 

Dáng mây thay đổi lắm nhiều,

Mộng Nam-Kha khéo dệt thêu lòng đời.

Sương rơi tắm Hạ, sen chồi,

Gió đưa cảnh sắc, mai cười vườn Xuân.

Non Tây, trăng lặn, khó lần,

Nước suôi Đông-hải, không phần trở lui.

Én xưa Vương, Tạ lâu-đài,

Bình dân, nay lại là nơi đi về.

 

(1) Đại ý: Đời là vô thường, thói đời cũng vô thường. Trên bầu trời đám mây trắng nổi trải dài như chiếc áo trắng, phút chốc biến thành con chó xanh (Thơ Đỗ-Phủ: “Thiên thượng phù vân như bạch y, tu tư biến huyễn vi thương cẩu”). Tất cả đều như giấc mơ tại Nam-Kha. Nam-Kha: “Ông Thuần-Vu-Phần nằm mơ thấy mình thi đỗ cao, nhà vua gả công-chúa cho và cho đi làm quan Thái-thú tại quận Nam-Kha. Sau ông đi đánh giặc bị thua trận, ở nhà vợ bị bịnh chết. Vì thua trận, nhà vua nghi ngờ, cho nghỉ trở về quê. Ông tỉnh dậy, thấy mình đang nằm dưới gốc cây hòe, bên ổ kiến. Một năm 4 mùa. Qua Đông, Xuân sang Hạ, mùa Hạ có sen nở. Qua Thu, Đông lại sang Xuân. Mùa Xuân có hoa mai. Bóng trăng lặn phía Tây, lặn rồi bóng không lưu lại. Nước chảy về biển Đông, chảy rồi sóng đâu vờn nữa. Việc đời có giầu sang, nghèo hèn. Xưa kia, Họ Vương và họ Tạ đời Tống bên Trung-Hoa, giầu sang tột bậc, người lui tới đông đúc, các chim én cũng tụ tập về ở xung quanh nhà. Sau này sa sút, không ai lui tới, các chim én cũng bay đi, đậu tại các nhà dân bình thường.

 

28.- HỌA HUYỆN-LỆNH  (1)

(Họa thơ Huyện-lệnh)

 

Tằng vi vũ-nội Tứ-Minh-Cuồng,

Khẳng tiễn Y-vương dữ Quỷ-vương.

Vị giác-ngộ trung, chân giác-ngộ,

Nan thường lương để, diệu thương lường.

Tiểu-căn dục vấn trường-sinh-dược,

Tác-giả na cầu bất-tử-phương.

Kim nhật thủy hàn ngư bất thực,

Nhất thời thuyên võng dã đô vương (vong) .

 

Từng như là Tứ-Minh-Cuồng,

Y-vương cùng với Quỷ-vương khôn lường.

Chính chân-giác-ngộ: bình thường,

Khó suy lường: diệu suy lường thẳm sâu.

Trường-sinh, căn nhỏ mong cầu,

Lương-phương bất tử, thêm rầu thượng-căn!

Thủy-hàn, tôm cá biếng ăn,

Lưới, nơm rảnh rỗi, đâu cần một mai!

 

(1) Đại ý: Đây nói về tinh thần tự do, phóng khoáng như ông Hạ-Tri-Chương, người Vĩnh-Hưng, làm quan Thị-Lang bộ Lễ đời Đường-Huyền-Tông (Trung-Hoa). Tính ông phóng khoáng. Về già, ông làm đạo-sĩ ở Kinh-Hồ, lấy hiệu là Tứ-Minh-Cuồng. Đạt tới chỗ phóng khoáng, không chấp, nên Y-vương, Quỷ-vương đều mến như nhau. Y-vương chỉ cho đức Phật (chân). Quỷ-vương (vọng). Khi chưa giác-ngộ, phải giữ được tâm bình thường, là chân-giác-ngộ, là đạo. Đáy từng của sự khó thương lường, là diệu thương lường. (Xuất xứ từ thiền-ngữ của tông Quy-Ngưỡng: “Nan tư-lường xứ diệu tư-lường”). Người tiểu căn còn mong được thuốc trường-sinh, bậc thượng căn, bậc đạt đạo đâu cần thuốc bất tử. Như mùa đông giá lạnh, cá không ăn mồi; tất nhiên nơm và lưới cũng không cần dùng nữa. Khi đạt đạo, 6 căn viên diệu, 6 trần ngưng bặt, chân tâm nhất như, còn gì phải nghĩ bàn.

 

29.- HỌA HƯNG-TRÍ THƯỢNG-VỊ-HẦU (1)

(Họa thơ Hưng-Trí Thượng-Vị-Hầu)

 

Thiền-phong vô hậu diệc vô tiền,

Bản-thể như như chỉ tự-nhiên.

Thiếu-thất cửu niên vô nhất ngữ,

Hoàng-Mai bán dạ giả đơn truyền.

Tâm cơ bất quải ty hào niệm,

Khẩu nghiệp hà lao giản trạch ngôn.

Vị báo nguyên quân Trần-xử-sĩ,

Nhất thanh lãnh-nhạn độ sương thiên.

 

Thiền-phong không trước không sau,

Như như bản-thể một màu tự-nhiên.

Hoàng-Mai bán dạ đơn truyền,

Chín năm Thiếu-thất không tuyên một lời.

Tâm cơ không chút niệm rời,

Nhọc chi khẩu-nghiệp đua đòi đắn đo.

Mong Trần-xử-sĩ hiểu cho,

Trời sương, tiếng nhạn xa đưa lạnh-lùng.

 

(1) Đại ý: Hưng-Trí Thượng-Vị-Hầu tức là Trần-Quốc-Nghiễn, con trai thứ hai của Trần-Hưng-Đạo. Ông tham gia kháng chiến chống quân Nguyên-Mông lần thứ hai. Khi giặc rút lui, vua Trần ra lệnh không được đuổi, giết chúng. Ông quá hăng say, đuổi theo và giết nhiều người. Vua Trần cho là không tuân lệnh, không khen thưởng. Ông buồn, làm thơ than thở, nên Thượng-Sĩ họa thơ lại, an ủi. Là người có chân-tâm, hiểu bản thể như như, không có trước, không có sau, không có khen, không có chê. Không cần thiết. Tổ Đạt-Ma, 9 năm ngồi quay mặt vào vách đá tại Thiếu-Lâm, không nói một lời. Nửa đêm tổ Hoằng-Nhẫn truyền tâm-ấn cho Lục-tổ Huệ-Năng ở Hoàng-Mai. Khi tâm không còn mang một chút vọng niệm nào, thì miệng, nhọc gì phải chọn lời than vãn. Vì vậy ta khuyên Trần-xử-sĩ (chỉ cho Trần-Quốc-Nghiễn), nên giữ tâm an-tịnh, mọi buồn phiền sẽ hết. Như một tiếng chim nhạn kêu, sương mù sẽ tan biến.

 

30.- TỤNG THÁNH-TÔNG ĐẠO-HỌC (1)

(Ca tụng đạo-học của Thánh-Tông)

 

Thánh học cao minh đạt cổ câm (kim),

Thiết nhiên long-tạng quán hoa-tâm.

Thích-phong ký đắc khai quyền bảo,

Tổ-ý tương vô thấu thủy châm.

Trí bạt thiền-quan thông Thiếu-thất,

Tình siêu giáo-hải khóa Uy-Âm.

Nhân-gian chỉ kiến thiên sơn tú,

Thùy thính viên đề thâm xứ thâm.

 

Làu thông Thánh-học xưa nay,

Long-tàng pháp-bảo gội đầy tâm hoa.

Thích-phong, tay báu mở ra,

Tổ-tông diệu-ý,  nước xòa dáng kim.

Thiếu-lâm, trí suốt cơ Thiền,

Uy-Âm biển giáo vượt trên suy tầm.

Nghìn non đẹp, thấy không lầm,

Vượn kêu rừng thẳm ai tầm chăng ai!

 

(1) Đại ý: Bài này ca tụng đạo học của vua Trần-Thánh-Tông. Vua Trần-Thánh-Tông không đi xuất gia, nhưng kho tàng giáo lý của Phật, nhà vua hiểu thấu suốt đến chỗ cùng tột. Trong đây có chữ Long-tạng, có nghĩa là, kho tàng kinh sách của đức Phật ở nơi Long-cung. Một lần Bồ-tát Long-Thọ thuyết pháp tại Long-cung. Long-vương hướng dẫn Bồ-tát đi xem kho tàng kinh sách tại Long-cung, Bồ-tát thỉnh về thế-gian bộ kinh Hoa-Nghiêm v.v… Kho của báu trong bàn tay của Phật đã được mở ra. Đây là truyện về Tổ Sư-Tử: Một hôm Tổ Sư-Tử hoằng pháp tại nước Kế-Tân, có ông Trưởng-giả dẫn đứa con đến và thưa với Tổ rằng: “Con trai của con đây tên là Tư-Đa, năm nay đã 20 tuổi. Từ khi sinh ra cho đến bây giờ bàn tay trái của nó vẫn nắm không mở. Xin Tổ cho con biết nguyên nhân ra sao?”. Tổ nhìn thẳng vào mặt Tư-Đa rồi đưa tay bảo: “Trả viên ngọc lại cho ta”! – Tư-Đà xòe tay ra dâng viên ngọc cho Tổ. Tổ kể, đời trước ta là một Tỳ-khưu thường được Long-vương thỉnh ta thuyết pháp. Một hôm, sau khi thuyết pháp xong, Long-vương cúng ta một viên ngọc, ta nhận rồi, trao chú thị-giả tên là Bà-Xá giữ. Sau đó ta tịch. Vì nhân duyên thầy trò chưa gặp nên chú vẫn còn giữ trong tay. Nay nhân duyên hội ngộ chú trả lại viên ngọc cho ta. Ông Trưởng-giả liền cho con theo Tổ đi xuất-gia. Tổ ghép tên hai đời lại cho pháp-danh là Bà-Xá Tư-Đa. Và, ý chỉ của các tổ cũng thấy rõ như thấy kim trong nước. Đây là theo điển-tích: Khi Tổ Long-Thọ đến Nam-Ấn, Ngài Ca-Na-Đề-Bà đến yết kiến. Tổ Long-Thọ sai đệ tử múc một thau nước đầy để trước lối vào. Ngài Ca-Na-Đề-Bà đi qua, cầm một cây kim bỏ vào trong thau nước. Tổ Long-Thọ rất hoan hỷ, cho theo xuất-gia và làm Tổ thứ 15 trong thiền-tông. Kim rơi xuống nước khó tìm. Nay thấy kim trong nước, là nhân duyên hội ngộ. Trí tuệ nhà vua thông suốt đến tận chỗ Thiếu-thất (nơi Tổ Đạt-Ma), và tình thức của nhà vua vượt qua biển giáo-lý đến nơi đức Phật Uy-Âm. Uy-Âm là tên đức Phật thời quá khứ. Trong kinh có chỗ nói: “Từ đức Phật Uy-Âm trở về trước không có tên Phật cũng không có tên chúng-sinh”. Đức Phật Uy-Âm là đức Phật trên hết các đức Phật. Tiếc rằng, người đời chỉ thấy những cảnh sắc bên ngoài, nhưng không thấy rõ giác tính bên trong. Như chỉ thấy ngàn non đẹp, nhưng có ai lắng nghe tiếng vượn kêu trong rừng sâu!

 

31.- GIANG HỒ TỰ THÍCH (1)

(Vui thú giang-hồ)

 

Hồ hải sơ tâm vị thủy ma,

Quang-âm như tiễn hựu như thoa.

Thanh-phong, minh-nguyệt sinh nhai túc,

Lục-thủy, thanh-sơn hoạt kế đa.

Hiểu quải cô-phàm lăng hãn mạn,

Vãn hoành đoản-địch lộng yên ba.

Tạ Tam kim dĩ vô tiêu-tức,

Lưu đắc không thuyền các thiển sa.

 

Sơ-tâm hồ hải chưa mòn,

Ngày qua tên vút, tháng luồn thoi đưa.

Trăng trong, gió mát dư thừa,

Non xanh, nước biếc, nhởn nhơ thanh-nhàn.

Buồm đơn, sớm lộng mênh-mang,

Chiều dâng khói sóng, sáo ngang tiếng lùa.

Tạ-Tam, nay trở về xưa,

Thuyền không gác đợ bên bờ cát nông.

 

(1) Đại ý: Tâm vui thích giang hồ từ trước tới nay, dù ngày tháng như thoi đưa, vẫn chưa phai mòn. Nào gió mát, trăng thanh, non xanh, nước biếc đã quá đủ. Sáng sớm vượt qua làn nước mông mênh. Chiều hôm thổi sáo vui đùa với khói sóng. Tạ-Tam trước đây cũng vui thú cảnh giang hồ, nhưng nay không tin tiức gì nữa, để lại chiếc thuyền trên bãi cát nông. Đây chỉ về Tạ-Tam, Tức Tạ-Tam-Lang, ám chỉ ngài Huyền-Sa Sư-Bị. Ngài người Phúc-Châu, đời Đường, Pháp danh Tông-Nhất Thiền-Sư, tên là Sư-Bị. Ngài người họ Tạ, là con trai thứ ba, nên gọi là Tam-Lang. Trong thời thiếu niên ngài làm nghề chài lưới. Năm 30 tuổi ngài đi xuất gia nơi Huấn-thiền-sư ở Phù-Dung, đắc pháp nơi Tồn-thiền-sư ở Tuyết-Phong. Đầu tiên ngài an trụ ở Phổ-Ứng-Viện, sau về trụ ở Huyền-Sa. Ngài trì luật nghiêm cẩn. Ngài viên tịch năm 75 tuổi, đời Lương-Thái-Tổ. Còn một thuyết Tạ-Tam nữa, ám chỉ cho Tạ-Linh-Vận. Tạ-Linh-Vận người Dương-Hạ, thuộc Tống, Nam-triều, được tập phong là Khang-Lạc-Công. Ông rất thông minh, thơ văn, vẽ, viết đứng vào bậc nhất vùng Giang-Tả, nhưng tính ưa cải cách và thích ngao du sơn thủy. Đầu tiên ông làm quan Thái-Thú Vĩnh-Gia, bỏ đi chơi hàng tuần mới về, nói là bị bịnh. Sau làm Nội-Sử Lâm-Xuyên cũng giữ tính cũ, trong cơ quan hành pháp, họ nghi là ông có ý định tạo phản, bắt đày đi Quảng-Châu. Do tên tập phong của ông, người đời gọi là Tạ-Kkhang-Lạc. Ông làm thơ tương đắc với Nhan-Diên-Niên họ gọi là Nhan-Tạ, tương đắc với Bao-Chiếu, họ gọi là Bao-Tạ.

 

32.- VẬT BẤT NĂNG DUNG (1)

(Vật không dung theo người)

 

Khỏa-quốc hân nhiên tiện thoát y,

Lễ phi vong dã, tục tùy nghi.

Kim-xuyên thốc-ẩu vi huyền dặc,

Minh-kính manh-nhân tác cái chi.

Ngọc tháo nhập cầm, ngưu bất thính,

Hoa trang anh lạc, tượng hà tri.

Hu ta nhất khúc huyền trung diệu,

Hợp bả hoàng-kim chú Tử-Kỳ.

 

Nước không mặc áo, mặc chi!

Phải đâu quên lễ, tùy nghi, hợp thời!

Già, trâm vàng, mắc áo thôi,

Mù soi gương sáng, nắp môi chén thường.

Tiếng đàn ngọc, trâu chẳng màng,

Trang-hoàng anh-lạc, voi sang-trọng gì.

“Huyền trong diệu”, khúc lâm-ly,

Chung vàng đúc tượng Tử-Kỳ, coi chung!

 

(1) Đại ý: Bài thơ này nói về đồ vật dùng phải đúng người, phải biết tùy thuận, tùy nghi, hoằng pháp phải hợp chân lý, hợp căn cơ. Như vào nước có phong tục cổi trần, mình cũng phải cổi trần. Bà già sói đầu, có trâm vàng chỉ dùng làm móc áo. Người mù có gương dùng đạy nắp chén. Cây đàn bằng ngọc gẩy vào tai trâu cũng vô ích. Đồ anh lạc trang hoàng cho voi, voi cũng chẳng biết gì. Trong lẽ huyền diệu, phải có tri âm như Bá-Nha và Tử-Kỳ mới được.

 

33 – 34.- THƯỚNG PHÚC-ĐƯỜNG

TIÊU-DAO THIỀN-SƯ, TỊNH DẪN (1)

(Trình Thiền-Sư Tiêu-Dao ở Phúc-Đường, kèm theo lời dẫn)

 

Cửu vi phong-thái,

Kiểu ký hoang-thôn.

Thân tuy thiên ngoại chi Sâm, Thương,

Ý hữu kính trung chi loan phượng.

Nhàn xướng Vô-sinh chi khúc,

Dụng thù Pháp-nhũ chi ân.

Lạm trát già-đà,

Thướng trình tọa hạ.

 

1) Thân tuy phì độn ngụ hương-quan,

Tứ trọng ân thâm vị cảm hàn.

Ý chuyết thiểu phùng thiêm ý-khí,

Tâm khôi cô thủ thốn tâm đan.

Xuân hồi hư đối khai đào nhị,

Phong khởi không văn kích trúc can.

Đương nhật đáo gia tham vấn bãi,

Một huyền cầm tử thỉnh kim đàn.

 

2) Tạm lai thỉnh vấn “Cổ Chùy Thiền”,

Tượng mạo kỳ di tráng thả kiên.

Tuệ-Khả thân tàm bì tủy ký,

Triệu-Châu thiên dữ hạc quy niên.

Tu tri thế hữu nhân trung Phật,

Hưu quái lô khai hỏa lý liên.

Trân trọng già-đà tùy hứng lễ,

Kỷ đa mạn khước tử nhung chiên.

 

Lâu xa phong-thái,

Tạm ngụ hoang-thôn.

Thân tuy xa cách như Sâm, Thương,

Ý vẫn thân gần như loan, phượng.

Thanh-nhàn gẩy khúc Vô-sinh,

Vận-dụng đền ơn Pháp-nhũ.

Lạm viết bài thơ,

Dưới tòa dâng đệ.

 

1) Thân quê tạm ngụ xóm làng,

Bốn ơn sâu nặng luôn mang không sờn.

Gặp sơ, ý-khí vươn hơn,

Tâm như tro nguội, lòng son dạt-dào.

Xuân về, nở nhị hoa đào,

Gió Không lay động lào-xào cành tre.

Sau ngày tham vấn vừa qua,

“Đàn không dây” trổi khúc ca nhiệm mầu.

 

2) Tới thăm bậc “Cổ Chùy Thiền”,

Dáng người mạnh khỏe, vững bền, sống lâu.

Dụ da, tủy, Tuệ-Khả rầu,

Tuổi như rùa hạc, Triệu-Châu ai bì!

Trong người có Phật diệu-kỳ,

Sen trong lò lửa, có chi sững sờ!

Chân-thành lễ vọng, dâng thơ,

Tấm mền nhung mọn, đừng từ nan chi!

 

(1) Đại ý: Đây là hai bài thơ của Tuệ-Trung Thượng-Sĩ dâng lên Thầy ngài là Thiền-sư Tiêu-Dao ở tịnh-xá Phúc-Đường. Ngài bày tỏ tấm lòng biết ơn Thầy và trả ơn Thầy. Tuy xa cách Thầy như sao Sâm ở phương Tây, sao Thương ở phương Đông, nhưng tình thầy trò như loan với phượng. Nhờ Thầy con hiểu đạo thoát ly sinh tử, con đem đạo lý ấy hướng dẫn cho tha nhân để đền ơn pháp nhũ. Tuy con ở chốn quê mùa, nhưng bốn ơn (ơn cha mẹ thầy tổ, ơn quốc gia xã hội, ơn đàn na tín thí, ơn Tam Bảo) con không bao giờ quên. Con là người dốt nát, nhờ Thầy con tăng thêm ý khí tiến đạo. Ngày nay dù mùa xuân đến, nhìn hoa đào nở một cách thản nhiên, nghe tiếng gió thổi vào các cây trúc cũng vậy thôi. Ngày trước đi thăm hỏi hết, nhưng nay chỉ xin dạo cung đàn không dây, tức là giáo lý vượt sinh tử.

 

Con gửi thư thăm hỏi thầy, coi Thầy như là bậc Cổ-Chùy-Thiền, như là các bậc tiền bối đã đạt thiền một cách rốt ráo. Song, Thầy còn cảm thấy chưa được như việc Tổ Đạt-Ma thụ ký cho các vị tham thiền, như được da, được tủy. (Khi Tổ Đạt-Ma sắp viên tịch gọi một số vị trình chỗ sở ngộ của mình. Ngài Đạo-Phó trình, Tổ bảo, ông mới được phần da của ta, ngài Tuệ-Khả ra trình, đứng yên không nói, Tổ bảo, ông đã được phần tủy của ta). Con mong Thầy sống 120 tuổi như ngài Triệu-Châu. Thế nên biết rằng, thế gian có Phật, như trong lò lửa có hoa sen nở. Cuối cùng Thượng-Sĩ nói: “Con có bài thơ, chút vật mọn dâng lên Thầy”!

 

35.- PHÚC-ĐƯỜNG CẢNH VẬT (1)

(Cảnh vật phúc-Đường)

 

Phúc-Đường cảnh trí dĩ lang-đang,

Lại hữu thiền-phong tập tập lương.

Ly lạc tiêu sơ trừu duẫn sấu,

Môn đình u thúy tịch tùng hoang.

Vị phùng thì thái hiền-nhân xuất,

Thả hỷ lâm thâm thụy thú tàng.

Tảo vãn lão thiên khai Phật-nhật,

Thông môn đào lý lộng xuân-quang.

 

Phúc-Đường cảnh-trí thênh-thang,

Gió thiền dịu mát rảnh rang lòng người.

Giậu xiêu, măng ốm sơ sài,

Cổng sân u-thúy chen cài thông hoang.

Người hiền chưa gặp vận sang,

Mừng thay thú quý ẩn tàng rừng sâu.

Chan hòa Phật-nhật sớm chiều,

Ánh xuân đầm ấm, mận đào nhởn nhơ.

 

(1) Đại ý: Đây tả phong cảnh tịnh-xá Phúc-Đường của Thiền-sư Tiêu-Dao. Cảnh trí này u tịch, nhưng nhờ có gió thiền, ai tới đây cũng thấy mát mẻ. Nào giậu xiêu, măng gầy, tùng hoang, sân rậm. Có lẽ chưa gặp thời, con thú quý còn ẩn. Mong sao Phật nhật sớm bừng sáng, để cho đào, lý nở hoa tươi đẹp dưới ánh sáng của mùa xuân.

 

36.- TẶNG THUẦN-NHẤT PHÁP-SƯ (1)

(Tặng Pháp-Sư Thuần-Nhất)

 

Pháp-thân tịch-diệt, sắc-thân tồn,

Dạ tĩnh tam canh nhập mộng hồn.

Túng vị ưu-du Thiền-tổ-vực,

Dã tằng xuất nhập Pháp-vương-môn.

Lãn đăng Hiền-Thánh Vô-sinh lộ,

Cam kết nhân thiên hữu-lậu căn.

Nhược ngộ tác-gia đàm diệu-chỉ,

Thiên-Tân hà xứ khởi hồ-tôn.

 

Pháp-thân lặng, sắc-thân còn,

Canh ba đêm vắng nhập hồn mộng-mơ.

Cảnh thiền chưa dạo tới bờ,

Pháp-môn qua lại đã thừa nhân duyên.

Vô-sinh, đường Thánh chưa lên,

Căn cơ hữu-lậu Nhân, Thiên dự phần.

Lẽ huyền-diệu, gặp luận bàn,

Ngâm câu “Trò Khỉ Thiên-Tân” thuở nào.

 

(1) Đại ý: Bài thơ này nói về sự có học, nhưng tâm còn lăng xăng chưa định. Pháp có , thiền chưa có. Chưa tới bậc Thánh, còn trong cõi nhân, thiên. Do đó, bàn về chỗ huyền diệu thì như câu chuyện “trò khỉ” ở Thiên-Tân. Đây là một câu chuyện: “Vào đời Đường, một hôm có Đại-Nhĩ Tam Tạng người Ấn-Độ sang Trung-Hoa, khoe là chứng được tha tâm thông, nhà vua cho ra mắt Quốc-sư Huệ-Trung, thử xem thực, hư. Ông ấy trông thấy Quốc-sư Huệ-Trung liền khoanh tay đứng hầu bên hữu. Quốc sư hỏi ông được tha tâm thông chưa? – Không dám. – Ông xem hiện giờ lão tăng ở đâu? – Hòa Thượng sao lại đến Tây-Xuyên xem đua thuyền. – Ông xem hiện giờ lão tăng ở đâu? – Hòa Thượng sao lại đứng trên cầu Thiên-Tân xem khỉ giởn. Quốc-sư hỏi lần thứ ba, ông ấy đứng im.

 

37.- KHUYẾN THẾ TIẾN ĐẠO (1)

(Khuyên đời tiến đạo)

 

Tứ tự tuần-hoàn Xuân phục Thu,

Xâm xâm dĩ lão thiếu niên đầu.

Vinh-hoa khẳng cố nhất trường mộng,

Tuế nguyệt không hoài vạn hộc sầu.

Khổ-thú luân-hồi như chuyển cốc,

Ái-hà xuất một đẳng phù-âu.

Phùng trường diệc bất mô lai tỵ,

Vô hạn lương-duyên cửu mạ hưu!

 

Bốn mùa Xuân lại tới Thu,

Đầu xanh chốc đã phất-phơ bạc màu.

Vinh-hoa phủ giấc mộng sâu,

Tháng năm ôm-ấp mối sầu muôn thưng.

Xe lăn nẻo khổ không ngừng,

Sông yêu chìm nổi như chừng bọt tan.

Gặp đâu hay đó… không cần,

Lương-duyên vô hạn. Chỉ ngần ấy chăng?

 

(1) Đại ý: Bài thơ này khuyên người ta vào đạo, tu đạo, tiến đạo. Cảm nhận đời là vô thường: Xuân đến Thu. Đầu xanh thành đầu bạc. Vinh hoa là giấc mộng, năm tháng những buồn rầu. Cứ thế, chìm nổi trong luân hồi, lăng xăng trong yêu, ghét. Gặp cơ hội, không biết sờ lên mũi, xem hơi thở còn hay mất. Duyên lành chỉ có hạn thôi. Đừng nên gặp đâu hay đó, như trong Truyền-Đăng-Lục có câu: “Can mộc tùy thân, phùng trường tác hý”, nghĩa là, gậy gộc theo mình, gặp chỗ nào chơi đùa chỗ ấy.

 

38.- THỊ CHÚNG (1)

(Gợi bảo đồ-chúng)

 

Hưu tầm Thiếu-Thất dữ Tào-Khê,

Thể-tính minh minh vị hữu mê.

Cổ nguyệt chiếu phi quan viễn cận,

Thiên phong suy bất giản cao đê.

Thu quang hắc bạch tùy duyên sắc,

Liên nhị hồng hương bất trước nê.

Diệu-khúc bản lai tu cử xướng,

Mạc tầm Nam, Bắc dữ Đông, Tê (Tây).

 

Tìm chi Thiếu-Thất, Tào-Khê,

Sáng trong thể-tính, chưa mê phai lần!

Trăng xưa soi, sá xa gần,

Gió thiên-nhiên thổi, đâu cần thấp cao.

Thu-quang đen, trắng theo màu,

Bùn nhơ không thể dính, nhàu hương sen.

Bản-lai diệu-khúc trổi lên,

Đông, Tây, Nam, Bắc an-nhiên khỏi tìm!

 

(1) Đại ý: Bài thơ này khuyên tất cả đồ chúng xuất gia, tại gia hãy trực nhận nơi mình sẵn có thể tính chân như bình đẳng, không phân biệt. Không phải tìm nơi chỗ Bồ-Đề Đạt-Ma hay chỗ tổ Huệ-Năng mới thấy. Từ xưa tới nay, trăng soi không cứ xa, gần, gió thổi không biết cao, thấp. Ánh Thu chiếu hiện theo màu sắc, sen thơm không nhiễm mùi bùn. Diệu-khúc bản lai, tức thể tính nơi chúng ta, lúc nào, chỗ nào hát lên cũng được.

 

39.-TRỤ TRƯỢNG-TỬ (1)

(Cây gậy)

 

Nhật nhật trượng trì tại chưởng trung,

Hốt nhiên như hổ hựu như long.

Niêm lai khước khủng sơn hà toái,

Trác khởi hoàn phương nhật nguyệt lung.

Tam xích Song lâm hà xứ hữu,

Lục hoàn Đia-Tạng khoái nan phùng.

Túng nhiêu thế đạo kỳ khu thậm,

Bất nại tòng tiền bột tốt ông.

 

Ngày ngày gậy nắm trong tay,

Bỗng nhiên như hổ, rồng bay khôn bàn.

Vung lên, sợ núi sông tan,

Dựng lên, e bóng trăng tàn, trời che.

Song-lâm ba thước đâu hề!

Sáu vòng Địa-Tạng khó bề gặp may!

Đường đời dù lắm chông gai,

Không e lật đật như ngày xưa kia!

 

(1) Đại ý: Bài thơ này chỉ cho pháp thân nơi sắc thân chúng ta. Sắc thân có hư hoại, pháp thân không hư hoại và diệu dụng vô cùng. Pháp thân ám chỉ cho cây gậy. Hiểu rõ pháp thân, diệu dụng của nó như hổ, như rồng. Núi sông, trăng sao đều là pháp thân. Biết thì còn, quên thì mất. Cái gậy ba thước nơi Song lâm của ngài Phó-Đại-Sĩ, tự Huyền-Phong, hiệu Thiện-Huệ, đi đâu ngài cũng cầm. Trên cây tích trượng của Bồ-tát Địa-Tạng lúc nào cũng có 6 cái vòng tượng trưng cho 6 độ (bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tiến, thiền định, trí tuệ) để hóa độ chúng sinh, loại trừ 6 trần (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp). Dù cho đường đời có gập ghềnh, chông gai đã có cây gậy, không bị lật đật như trước nữa. Dù cho cảnh đời nhiều phiền não, nhưng trực nhận được thể tính, nương pháp thân đạt tới bờ an lạc.

 

40.- TỰ ĐỀ (1)

 

Thu-quang hữu bút mạc hình dung,

Khích mục sơn hà xứ xứ đồng.

Nhất phái Tào-Khê hàn trạm trạm,

Thiên niên Hùng-Nhĩ bích tùng tùng.

Đang lung chàng phá kim-cương quyển,

Lộ trụ hồn thôn lật cức bồng.

Dục thức cá trung đoan đích sự,

Tân-la dạ bán nhật đầu hồng.

 

Cảnh Thu khó vẽ nên hình,

Mắt nhìn sông núi đượm tình bao la.

Tào-Khê một giải lặng tờ,

Nghìn năm Hùng-Nhĩ như xưa chân-thường.

Đèn lồng phá vỡ kim-cương,

Giậu phên gai góc lẩn trong cột trần.

Muốn hay đích thực nguyên căn,

Tân-la trời đỏ ửng dần nửa đêm.

 

(1) Đại ý: Bài thơ này Thượng-Sĩ ám chỉ cho giác tính nơi con người, nơi sự vật. Thu quang biểu trưng cho giác tính. Giác tính bao trùm vạn vật. Nhận được giác tính, đâu cũng là nơi tổ Huệ-Năng, nơi tổ Đạt-Ma. Nhận giác tính phải hiểu ngược lại sự nhận thức của đời, phá vỡ những thành kiến chấp trước như: lồng đèn phá kim cương, cột trụ nuốt gai góc. Đây nói cái gì cũng nằm trong pháp thân, trong giác tính hết. “Kim cương quyển và lật cức bồng” là xuất xứ từ ngài Dương-Kỳ Phương-Hội: “Thấu đắc kim cương quyển. Thôn đắc lật cức bồng”, có nghĩa là lọt được cái vòng kim cương. Nuốt được bó gai lật cức. Và, ngài Vân-Môn hay nói: “Cây cột này có liên quan với chư Phật. Cây cột này sao không nói thiền đi?” Thời giờ mỗi nơi có khác nhau, bởi sự xoay chuyển của trái đất. Có nơi mặt trời mọc nửa đêm. Tân-la là nước Triều-Tiên xưa kia. Có lẽ, xưa kia mặt trời mọc, người nước Triều-Tiên thấy trước chăng? Nhưng ý nói, khi trực nhận được giác tính thì bất cứ thời gian, phương sở nào nó cũng hiển hiện.

 

41.- ĐỐN TỈNH (1)

(Chợt tỉnh)

 

Đoán tri không, hữu bất tương sa (sai),

Sinh tử nguyên tòng nhất phái ba.

Tạc dạ nguyệt minh, kim dạ nguyệt,

Tân niên hoa phát, cố niên hoa.

Tam sinh thúc hốt chân phong chúc,

Cửu giới tuần hoàn thị nghĩ ma.

Hoặc vấn như hà vi cứu cánh,

Ma-ha bát-nhã tát-bà-ha.

 

Có, không chỉ một mà thôi,

Tử, sinh đợt sóng chuyển nhồi tạo ra.

Trăng nay, trăng cũng đêm qua,

Hoa cười năm mới cũng hoa năm rồi.

Ba sinh, đuốc trước gió mồi,

Tuần hoàn chín cõi, kiến ngồi cối xay.

Tới nơi cứu cánh sao đây?

Siêu-nhiên tuệ-giác, vẹn đầy “Sa ha”.

 

(1) Đại ý: Bài thơ này Thượng-Sĩ khuyên chúng ta cần phải tỉnh thức mau chóng về sự đối đãi ở đời để đi đến chỗ nhất như. Trong chân thể, có không chỉ là một. Sinh tử do làn sóng vọng động của vọng tâm sinh khởi, hết sóng thì nước yên. Trăng tối qua, trăng tối nay, ánh sáng của nó cũng chỉ là một. Hoa năm cũ, hoa năm mới đều là một thể chất của hoa. Thời gian của quá khứ, hiện tại, vị lai như cầm ngọn đuốc trước gió lùa. Chín cõi của chúng sinh còn bị luân hồi sinh tử, như kiến trên miệng cối xay. Muốn đạt tới giác ngộ cứu cánh, cần phải thành tựu trí tuệ siêu việt.

 

42.- THOÁI CƯ (1)

(Lui về)

 

Thảng lai họa phúc bất đơn hành.

Nhàn bốc u-thâm ký tử sinh.

Hải quốc tam xuân mê yến-lũy,

Yên thôn nhất vũ cách nông-canh.

Đa tàm thân trọc phùng thời trọc,

Tiểu lại tâm thanh ngộ quốc thanh.

Dạ mộng Quán-Âm nhập hoang thảo,

Thu giang thanh, thiển lộ hoa hoành.

 

Bỗng dưng họa phúc tới rầm,

Thanh-nhàn chọn chốn u-thâm gửi mình.

Xuân về mê én xây thành,

Trận mưa mờ mịt nông-canh quê nhà.

Thời suy, thẹn tấm thân ta,

Chút lòng trong trắng nước nhà an vui.

Quán-Âm, hoang-thảo, mộng rồi,

Dáng hoa sương móc tỏa ngời sông Thu.

 

(1) Đại ý: Đời là vô thường. Nhân sinh theo nghiệp lực nhân quả. Nhân quả có thiện, ác, nên có họa, phúc. Phúc tới ít – vì làm thiện ít – tai họa tới nhiều – vì tạo ác nhiều (do câu: “Phúc bất trùng lai, hoạ vô đơn chí”, có nghĩa là, điều may mắn không lại nhiều cùng một lượt, nhưng điều tai họa thì đến dồn dập). Nghĩ thế, nên lui về chốn u-thâm cho thanh nhàn. Lui về ở miền biển, thì mùa xuân xem én làm tổ. Lui về ở miền nông thôn, thì nhìn khói lên, nhìn trận mưa đổ xuống mịt mờ, che khuất cả cánh đồng bao la. Nghĩ thẹn với mình là gặp thời không tốt. Nhưng, may còn chút lòng trong trắng, nên được ở trong đất nước thanh bình. Nghĩ vậy, nhưng đêm qua, mơ thấy Bồ-tát Quán-Âm vào nơi hoang thảo để cứu độ chúng sinh. Ngài rải nước hoa cam lộ trùm khắp mặt sông mùa Thu trong, cạn. Có nghĩa là, tâm tự tại, cảnh nhàn tĩnh đã sẵn, nhưng còn phải nghĩ đến việc lợi tha, việc đem lại an vui, hạnh phúc cho chúng sinh.

 

Hết

 

 

Ghi chú: Tập thơ “CÁNH HOA TÂM”, tác giả Hòa-Thượng Thích-Tâm-Châu, ấn hành lần thứ nhất tháng 12 năm 2001 tại Number-One Printing (714) 530-3760 Nam, California, Hoa Kỳ.