Văn Học‎ > ‎Thi Kệ‎ > ‎

Nét Tinh Thần

           

NÉT TINH THẦN

 

Các bạn,

 

Sống trải trên nếp sống của dân-tộc Việt, qua lý-tưởng lợi tha của đức Phật, tôi đã có những cảm nghĩ được thốt ra bằng lời và được ghi lại trong cuốn sách nhỏ này mệnh danh NÉT TINH THẦN.

NÉT TINH THẦN sẽ tới tay các bạn và tùy sự nhận thức của các bạn.

Riêng tôi, tôi không dám coi nó là cuốn thơ hay, vì chính tôi không phải và không dám nhận là thi-sĩ. Tôi chỉ coi nó là một sản phẩm tinh thần được kết-tinh bằng lòng nhiệt-thành yêu nước, yêu đạo, yêu nhân-loại và yêu thiên-nhiên.

Các bạn hãy đọc.

Các bạn sẽ hoan-hỷ giúp tôi những ý-kiến hay, đẹp hầu bổ-túc cho thêm hay, đẹp.

Cảm ơn các bạn.

 

Saigon, ngày Vu-Lan năm Đinh-Mùi 1967

Tâm-Châu

 

 

 

 

Nghĩa Vụ

 

TRƯỚC màn ảnh biến-thiên cùng sinh-diệt,

Phim đau thương vẫn cuồn-cuộn trưng-bày,

Với đấu-tranh với cuồng-vọng mê say,

Xây dựng lại! Trông lòng người xuất-thế.

 

Là dòng sống gạn trong bao thế-hệ,

Là dư-âm của chính-pháp tuôn trào,

Là ánh gương nêu giá-phẩm thanh-cao,

"Trên tất cả và hòa cùng tất cả".

 

Nhận-định rõ phương trời xa, mới, lạ,

Nhìn đáy từng nghĩa sống của nhân-sinh,

Nước từ-bi nhào-luyện đất công-bình,

Đuốc trí-tuệ soi tỏ đường chân-lý.

 

Người thực người trong vòng đời giá-trị,

Vươn mình lên trên hạnh-nguyện lợi-tha,

Dâng cho đời một thế-giới hương hoa,

Hiểu nghĩa-vụ và vui tròn nghĩa-vụ!

Hà-Nội, Thu Thống-Nhất Tăng-Già (1952)

 

Linh Phong

 

TỊCH chiếu viên dung thể diệu thường,

Linh phong vi động hiển chân phương.

Phân phân ảnh tượng không hoa tịnh,

Đảng đảng vân thiên thủy nguyệt trường.

 

Dịch:

 

Pháp-thân trong ánh lặng tờ,

Gió Thiêng lê dấu chân-như tuyệt vời.

Hoa không, cảnh sắc chuyển dời,

Lâng lâng trăng nước mây trời bao la.

Tâm-Châu 28-2-1959

 

Vui Sống

 

DÒNG thế-hệ dóng xuôi chiều dứt, nối,

Máy huyền-vi quay chuyển luật vô thường.

Lẽ sinh-tồn pha đượm chút dư hương,

Nguồn vui vẻ trào dâng trong nhựa sống.

 

Không buông thả cuộc đời nên trống rỗng,

Bao hư-vinh, dục-vọng nhuốm chiều mơ.

Giữa chợ đời va lạc lõng, ngây thơ,

Mắt chán-nản ngùi trông bằng tiêu-cực.

 

Là cuộc sống dạt-dào nguồn sinh-lực,

Hòa tâm-hồn trong nhịp sống quần-sinh.

Hướng vị-tha, xa lợi-ích riêng mình,

Đường cải-tạo thênh-thang cùng tiến bước.

 

Tiến bước,

Làm quang-đãng những vọng-tâm chấp-trước,

Hám vinh-hoa, địa-vị, vẻ ngang-tàng,

Thói ươn-hèn nương tựa cảnh mơ-màng,

Tỏa ánh sáng soi bầu trời đen tối.

 

Sống cuộc sống ngang nhiên không luồn cúi,

Xây-dựng trên mãnh-lực tự nơi ta,

Cùng hòa theo tiếng gọi của lợi tha,

Vui sống thực, có nghĩa là biết sống.

 

Dòng thế-hệ xuôi chiều không ngừng đọng,

Máy huyền-vi quay chuyển luật vô thường,

Lẽ sinh-tồn pha đượm chút dư hương,

Nguồn vui vẻ trào dâng trong nhựa sống.

Hà-Nội 15-1-1953

 

Bình Sinh

 

Bốn ba năm trải phong-trần,

Thân tâm nhuộm thẫm bao lần đắng cay.

Trăng khuya, sao sớm, nắng ngày,

Gắng bồi phúc-nghiệp, cố gây tính lành.

 

Ghé vai gánh vác điều-hành,

Nhân-sinh đau khổ mong thành an vui.

Lòng hỏi lòng chẳng ngậm-ngùi,

Đầm trong, trăng tỏ đạo, đời viên-dung.

Mùa lao-lý (tháng 9-1963)

 

Tiếng Vọng

 

MÂY lơ-lửng trên vòm trời xanh ngắt,

Gió hiu-hiu sào-sạc chuyển rừng cây.

Dòng châu sa nhẹ điểm đượm hương bay,

Xa xa vẳng những tiếng vang đồng vọng.

 

Trường sinh-tử nối theo giây ảo-mộng,

Nhân-duyên thành: có có với không không.

Giọt sương mai ngọn cỏ ánh dương hồng,

Màng bọt nổi, thoi đưa, chi xá kể!

 

Vùng-vẫy tắm say-sưa dòng thế-hệ,

Máu đào pha lệ thắm thấm ganh đua.

Lặn-lội trong dục-vọng khát lọc-lừa,

Xây-dựng những cơ-đồ trên huyễn-vọng.

 

Trường sinh-tử nối theo giây ảo-mộng,

Nhân-duyên thành: có có với không không.

Giọt sương mai ngọn cỏ ánh dương hồng,

Màng bọt nổi, thoi đưa, chi xá kể!

 

Hòa theo gió vẳng nghe như van-vỉ,

Tiếng vọng trùng ảo-mộng nhịp xa xa!

 

Tìm hiểu sâu lòng sự-vật bao la,

Đâu sự thật mà ta sinh quyến-luyến?

Là hình bóng chập-chờn khi ẩn-hiện,

Nương theo chiều phải sống của nhân-sinh.

 

Giữa nhân-sinh ta gieo rắc nhân lành,

Chung lợi-ích hòa cùng trong tất cả.

Đường thiện-chính gắng đi không sờn dạ,

Nêu thanh-cao trong mỗi một hành-vi.

 

Hòa theo gió vẳng nghe như van-vỉ,

Tiếng vọng trùng hy-vọng quyện gần ta!

Hà-Nội mùa Đông Nhâm-Thìn (1952)

 

Hoài Cảm

 

Gần chẵn một năm xa cách nhà,

Bao niềm tưởng nhớ rộn lòng ta.

Mong sao chong chóng thanh-bình lại,

Hoa đạo thơm tươi cảnh thái-hòa.

Saigon ngày 25-1-1953

 

Lòng Con

Kính dâng đức Bổn-Sư Thích-Ca Mâu-Ni Phật

 

NGÀY GIÁC-NGỘ hôm nay,

Niềm vui tràn ngập đầy,

Lòng con thêm rạo-rực,

Kính lễ dưới chân THÀY.

 

Thày là đấng CHA LÀNH,

Nguyện độ tận chúng-sinh.

Lăn-lộn vô số kiếp,

Diệt phiền-não vô-minh.

 

Vô-minh giũ sạch rồi,

Ánh đạo VÀNG thêm tươi.

Ngày tháng năm dài-dặc,

Tràn-lan khắp cõi đời.

 

Đời ô-trọc gớm ghê,

Bao thảm-khốc ê-chề.

Bao máu loang xương chất,

Đầy tham, giận, si-mê.

 

Con nay phúc-trí ít,

Xa Thày đã bao năm,

Đời nhiều đường ngang trái,

Con tạo bao lỗi-lầm.

 

Mong con người tỉnh lại,

Siết chặt lấy tay nhau.

Xây-dựng tình thân-ái,

Cho thanh-bình dài lâu.

 

Con mong được giải-thoát,

Cho nhẹ bớt vô-minh.

Cho sạch tiêu tai-chướng,

Dần lên đường VÔ-SINH.

 

Hoa ĐÀM ngạt-ngào hương,

Tỏa trong đáy lòng thương.

Hòa trong dòng sinh-lực,

Kính lạy đấng CHÂN-THƯỜNG.

Saigon, mùa Giác-Ngộ năm Bính-Thân (1956)

 

Xuân Hiểu

Mạnh-Hạo-Nhiên

 

Xuân miên bất giác hiểu,

Xứ xứ văn đề điểu.

Dạ lai phong vũ thanh,

Hoa lạc tri đa, thiểu?

 

Dịch:

 

Giấc xuân sực tỉnh sáng rồi,

Đó đây vọng tiếng chim rơi đầu cành.

Đêm qua mưa gió hoành-hành,

Cánh hoa bay ngả sân mình bao nhiêu?

Tâm-Châu - 1958

 

Thu Với Lòng Thu

 

LÁ thu nhẹ lướt sườn non,

Hồ thu mặt gợn nét buồn lăn-tăn.

Mây thu lơ-lửng tần-vần,

Trăng thu treo giá trắng ngần trời thu.

Nắng thu dãi ánh vàng lơ,

Sương thu phơn-phớt tỏa mờ non cao.

Nai thu ngơ-ngác ra vào,

Chim thu rít gió lượn nhào tầng xanh.

Người thu lặng dấu nguyên hình,

Lòng thu thu gọn cảnh-tình bao la.

Thu qua thu lại nơi ta,

Tưởng hương thu ngát tran-hòa đó đây.

Tên Thu ngày lại với ngày,

Nặng gieo bao mối cảm-hoài bi thu.

Chân Thu theo gót vân-cù,

Hồn Thu gửi lại gió từ Đông, Xuân.

Huế-kinh, Thu 1956

 

Ngẫu Cảm

 

CHÍ-đạo nơi ta được luyện rèn,

Luyện rèn BI, TRÍ, DŨNG trung-kiên.

Trung-kiên hạnh-nguyện ta cần tiến,

Cần tiến chung lên Đại-Giác-thiền.

Từ-Đàm 18-10-1956

 

Hòa Theo Tiếng Gió

 

GIÓ THIÊNG réo-rắt lòng tôi,

Gợi bao hình-ảnh cuộc đời buồn, vui.

Trông làn mây nước ngậm-ngùi,

Nhìn non sông tỏ mấy lời nhớ thương.

Dấu xưa đượm khí phi-thường,

Hồn xưa phảng-phất mùi hương anh-hùng.

Ngàn lau đua sức vẫy-vùng,

Vạn xuân hoa nở tưng-bừng nơi nơi.

Không-gian vẫn đất, nước, người,

Thời-gian sao khéo vẽ vời tang-thương.

Binh-đao rợp chốn sa-trường,

Sầu tuôn ngọn cỏ buồn vương đáy lòng.

Cố hương mờ giải vân-mòng,

Đồng quê gội tắm ánh hồng tà-dương.

Bâng-khuâng lữ-khách dậm trường,

Chuông chiều ngân vọng nguồn thương dạt-dào.

Tỉnh lên cho chí thêm hào,

Cho bền dạ sắt cho cao giá vàng,

Ngợp trong dòng sống nhẹ-nhàng,

Sưởi hồn lạnh đốt lò nhang CHÂN-THƯỜNG.

Cung đàn muôn điệu du-dương,

Giây lòng quyện gió muôn phương xa vời.

Tình ta là cả đất trời,

Muôn năm hoa nở đón cười trong mơ.

Trăng Thu vén gút mây mờ,

Huy-hoàng lẩn dấu tiêu sơ hoang-tàn.

Cành xuân dãi cánh hoa vàng,

Giang-sơn nhuộm ánh thiều-quang sáng ngời.

Vi-vu tiếng sáo lên khơi,

Mặt hồ sen tỏa lưng trời nhạn bay.

Thanh-bình trổi khắp đó đây,

Hương quê lộng ngát ngàn cây yên lành.

Nguồn sinh-lực dậy đô-thành,

Bạch-vân lồng bóng miếu-đình hiên-ngang.

Phong-ba lặng dưới trường-giang,

Nhân-sinh tỉnh giấc mộng ngàn thảnh-thơi.

Tiến lên vì đạo vì đời,

Siêu-nhiên lý-tưởng thắm tươi cảm tình.

Tơ lòng dệt bức cẩm-bình,

Bút thiên-tài vẽ nét tranh thiên-tài.

Ý thơ vương vấn cảm-hoài,

Hòa theo tiếng gió gửi người đồng tâm.

Mùa lá rụng 1950

 

Giới Đàn

 

Nấc thang tu-chứng hẳn từ đây,

ĐỊNH, TUỆ, khai-minh GIỚI trọn đầy.

Dấu cũ LINH-SƠN thêm rực-rỡ,

Xá-Na điện-các đợi chờ nay.

Hà-Nội mùa Đông Quý-Tỵ (1953)

 

Tâm Thư

Thân gửi các bạn Thanh-Niên Tăng.

 

HỠI các bạn thanh-niên Chân-Phật-Tử!

Dũng tiến lên còn do-dự nữa mà chi?

Kìa cờ đời đang rộn nước nghiêu-ly,

Bầu hòa-khí phải được ghi bằng GIÁC-ĐẠO.

 

Vượt ba cõi ra khỏi nhà phiền-não,

Chay sạch chăng? Tự tạo ở tâm-linh.

Dung-nghi ta là BI-TRÍ hiện hình,

Là HẠNH-NGUYỆN, là NGŨ-MINH cần quán-triệt.

 

Tìm hiểu suốt giữa đời bao học-thuyết,

Nhiếp-phục cùng cương-quyết gắng tư, tu.

Nghĩ, nói, làm xứng hợp với danh SƯ,

Khỏi cô-phụ, khỏi sinh hư tử lãng.

 

Hỡi các bạn,

Các bạn hãy nhìn sâu vào thực-trạng,

Cơ-sở nhà coi tựa đã sang Thu,

Khung-cảnh chùa tô vẽ nét tiêu-sơ,

Bề tổ-chức, độ-sinh như rời rã!

 

Người tu đạo lang-thang ba bốn ngả,

Lượng hẹp-hòi theo bản ngã nhỏ-nhen.

Thanh-niên là triển-vọng của vô biên,

Với sứ mạng thiêng-liêng trên nhiệm-vụ.

 

Hỡi các bạn thanh-niên Chân-Phật-Tử!

Dũng-tiến lên còn do-dự nữa mà chi?

 

Trông bốn phương kìa mây khói đen sì,

Gió thời-đại sầu bi đang réo-rít.

Guồng khoa-học luôn vươn mình chuyển tít,

Tạo nên bao oan-nghiệt giữa sinh-linh.

Nhân-loại mong hơ sưởi ánh bình-minh,

Trong hạnh-phúc, trong hòa-bình chân-thật.

Nguyện-vọng ấy đạt tới bờ NHƯ THẬT,

Ta gắng đem chính-giáo để tuyên-dương.

 

Các bạn là con cháu đấng PHÁP-VƯƠNG,

Là tiêu-biểu muôn phương hằng chiêm-ngưỡng.

Là hứa-hẹn tương-lai bừng cảnh-tượng,

Là hiện-thân của vô lượng vô biên.

Vươn mình lên qua giấc mộng triền-miên,

Trọn sứ-mạng cứu đời, xây-dựng đạo.

Kim-Sơn một mùa Đông Kỷ-Dậu (1949)

 

Tiễn Biệt

Thân tặng T.T Mật-Nguyện

 

MỘT chén quan-hà tiễn-biệt nhau,

Tinh-thần vị đạo khắc ghi sâu.

Trên tình lưu-khứ dù xa cách,

Hoằng-pháp lợi-sinh một nhịp cầu.

Phi-cảng Phú-Bài ngày 30-1-1953

 

Đêm Quê Khói Lửa

 

... Là những lúc tâm-hồn thêm hồi-hộp,

Lẩn trăng thu khóe mắt ướt căm-hờn,

Dưới tre xanh nhà lớp lớp chập-chờn,

Ánh đom-đóm chen tia đèn le-lói.

 

Giọng nức-nở, thở than hòa tiếng nói,

Ôi gia-đình! Ôi thế-sự thê-lương!

Làn gió buồn buông thả khắp muôn phương,

Tìm an-ủi, đâu đường về lẽ sống?!!!

 

Ngoài đồng vắng nơi cô thôn, cầu cống...,

Vang xung-phong: giết, giết,..., giết chi chi!

Đạn vô tình gây tang-tóc, phân-ly,

Lửa thù hận tiêu khô nguồn hạnh-phúc.

 

Truyền đơn bay inh-om mồm chó rúc,

Trái tim người đập mạnh, rén chân bon,

Ai biết ai phải, trái với dại khôn,

Hy-sinh trọn đêm dài đầy hy-vọng!

 

Sáng, ánh sáng, muốn mong giờ phút chóng,

Với sống còn trong đáy sử muôn xuân.

Phúc-Điền, mùa Thu Canh-Dần (1950)

 

Thị Chúng

Mãn-Giác Thiền-Sư

                          

XUÂN khứ bách hoa lạc,

Xuân đáo bách hoa khai.

Sự trục nhãn tiền quá,

Lão tòng đầu thượng lai.

Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận,

Đình tiền tạc dạ nhất chi mai.

 

Dịch:

 

Xuân đi lưu lại cánh hoa rơi,

Xuân tới trăm hoa nở nụ cười.

Vạn vật thoáng qua rồi mất biến,

Đầu xanh đã điểm nét sương rồi.

Có đâu xuân lụi hoa tàn mãi?

Đêm trước sân cười một nhánh mai.

Tâm-Châu ngày 29-12-1956

 

Nhìn Lại

Hồi tưởng giờ phút ngài Đại-Tâm (tiền thân Phật-Tổ)

 xả thân cứu hổ đói.

 

Trước cảnh thương tâm với Đại-Tâm,

Từ-Bi thổn-thức dạ khôn cầm.

Rưng rưng lệ chuyển chiều lai-láng,

Hồi-hộp tim rung động ngấm-ngầm.

Gió dịu hắt-hiu cây ắng-lặng,

Mây che bát-ngát bóng u-âm.

Vẩn vơ vơ vẩn tình man-mác,

Tính lại suy đi phải dễ nhầm.

 

Tính lại suy đi phải dễ nhầm.

Thoáng nhìn, hồi tưởng kiếp xa xăm.

Lửng-lơ, tránh lảng nơi trong sáng,

Đeo-đẳng, say mê cảnh tối-tăm.

Phó mặc tham, sân, si rạo-rực,

Tha hồ thân, miệng, ý chăm-chăm.

Vô-minh, muôn thuở hy-sinh thế!

Vị pháp ngày nay há lặng thầm!

 

Vị pháp ngày nay há lặng thầm!

Thênh-thang ngàn GIÁC chính phương-châm.

Lâng-lâng biển ái im ngầu-đục,

Phăng-phắc nguồn tâm lắng vẩn-lầm.

Giúp của, xả thân chung lợi-ích,

Cho vui, cứu khổ thoát luân-trầm.

Vị tha chuyển hướng không lùi bước,

Tia sáng vinh-quang thẳng chiếu nhằm.

 

Tia sáng vinh quang thẳng chiếu nhằm,

An vui giải-thoát chắc trăm-trăm.

Tiêu-dao, đâu phải màng danh-vọng,

Vĩnh-viễn, hề chi vướng tháng năm.

Vằng-vặc, long-lanh làn pháp-tính,

Dịu-hòa thanh-thoát giọng viên-âm.

Tấm gương hỷ-xả nhìn soi lại,

Đường đạo do đây quyết tiến, tầm.

Hà-Nội mùa Đông năm Nhâm-Thìn (1952)

 

Pháp Nạn

 

ĐẦM đầm lệ nhỏ thấm chăn,

Nạn vương dòng Thích mấy lần xưa nay?

Cửa Thiền loang vết máu dầy,

Chúng Tăng hiền đức lưu đầy nơi nơi.

Thê lương bao phủ ngập trời,

Điêu-linh mang lại bao người khổ đau.

Xá chi hà-chính khơi đầu?

Bình-minh tỏ rạng ngâm câu thái-bình.

Mùa lao-lý (tháng 8-1963)

 

Hải Vân Tức Cảnh

 

ĐƯỜNG Thu láng nước bánh xe ngoi,

Kìa Hải-Vân đang chễm-chệ ngồi!

Thầm gửi non sông lời ngẫu cảm,

Khơi nguồn ký-ức ở trong tôi.

 

Miệng biển nhe răng trắng cả cười,

Cánh mây nhẹ bổng tít mù khơi.

Non cao thoáng điểm màu phơn-phớt,

Lòng đá thon-thon nước rẽ suôi.

 

Chim chóc chơi đâu vắng tiếng kêu,

Rì-rào gió chuyện, lá, hoa reo.

Cầu nghiêng nghiêng mắt nhìn chân biển,

Buồm cá xa xa thẳng cánh lèo.

 

Chon-von, dài-dặc lượn quanh-queo,

Xe cộ xa trông thả sức trèo.

Xuống xuống, lên lên lòng phấp-phỏng,

Vui buồn hòa nhịp điệu gieo-neo.

 

Mặc có gieo-neo chẳng đoái hoài,

Đây tình non nước thú Bồng-lai.

Giác-quan tiếp đón hương mùa lạ,

Tâm tỏa niềm vui khắp mọi loài.

Hải-Vân ngày 18-10-1956

 

Ứng Cảm

 

Trăm ngày nữa ta giã từ Viện-Trưởng,

Ta thênh-thang nhẹ bước trên đồi cao.

Ta ung-dung ngâm vài câu cảm-tưởng,

Ta thả hồn trào đón ánh trăng sao.

Saigon, tháng 8-1965

 

Nguồn Thương

 

SÁNG trưng trong vẳng-lặng,

Vũ-trụ ngợp huy-hoàng.

Chuyển vần không ngừng đọng,

Hoa cỏ dịu ánh vàng.

 

Hiện-tiền tình, khí thế-gian,

Nhịp-nhàng sai biệt muôn vàn thể chung.

 

Từng trải vô số kiếp,

Sống giữa chúng-sinh cùng.

Chia vui hòa dẫn-tiếp,

Nguy-nan xá ngại-ngùng.

 

Mênh-mang biển khổ trập-trùng,

Cánh buồm tế độ thẳng rong tới bờ.

 

Phúc-tuệ hầu trọn vẹn,

Từ-bi khôn lạt mờ.

An-ninh trong thực-hiện,

Dòng sinh-tử lặng tờ.

 

Nguồn thương lai-láng không bờ,

Dù bao giờ vẫn bấy giờ trào tuôn.

Hà-Nội mùa Đông năm Nhâm-Thân (1952)

 

Hỷ Tín

Tặng Đạo-Hữu Trần-Đình-Cửu

chính quán xã Ứng-Luật, quận

Kim-Sơn, tỉnh Ninh-Bình (BV)

 

CỐ hương mây bạc xa xa,

Nhân-duyên đâu đấy vẫn là nhân-duyên.

Lòng trăng đón gió hương nguyền,

Cánh đào lướt ngọn Đào-nguyên suôi chiều.

Đường tơ, thơ ý dập-dìu,

Gấm hoa tỏ rạng nét thêu thắm hồng.

Trăm năm ghi một chữ "đồng",

Nhân-sinh lưu lại mấy dòng anh-hoa.

Saigon, ngày 14-11-1958

 

Chân Tính

 

NGUỒN thiêng TRÍ-GIÁC dạt dào,

Réo trong lẽ sống thanh-cao tuyệt-vời.

Mắt hoa nghĩ tưởng xa rời,

Khắp cùng pháp-giới rạng soi êm hòa.

 

Nét thanh-tịnh không mờ bản chất,

Đượm một màu như-thật không xa.

Mênh-mang vũ-trụ bao la,

Đều phản-ảnh tự tâm ta duy nhất.

Phăng-phắc xưa nay không chút vật,

Rõ-ràng sau trước có muôn hình.

Từ vô tình đến hữu-tình,

Đầy đủ tính linh nơi Tạng-thức.

Tâm, Phật, chúng-sinh đâu cách bức,

Chỉ nhận chân chữ TỨC ấy mà thôi.

Trăng in đáy nước sáng ngời.

Kiên-An mùa Thu năm 1953

 

Nhìn Tượng

Hai Bà

 

HAI Bà đứng đó làm chi đó?

Có phải trông trăng ngắm biển không?

Có biết việc chi trong Phật-giáo?

Máu người con Phật đã loang hồng!

Đêm bị bắt (20-8-1963)

 

Mùa Hy-Vọng

 

NGUỒN hy-vọng tràn-lan trong cảnh-vật,

Niềm hân-hoan bao phủ ánh sơn-hà.

Mảnh dư-đồ tô điểm nét son pha,

Hồn dân-tộc chói lòa gương dũng-tiến.

 

Lời đồng vọng vang rền ca quyết-tiến,

Ngát từng không hơi gió đượm hoe vàng.

Mảnh gươm thiêng chớp sáng Bạch-Đằng-giang,

Đàn chim Việt hót vang miền Tản-lĩnh.

 

Đinh, Lý, Trần xây lâu-đài cường-thịnh,

Ánh đạo VÀNG chiếu rọi khắp nơi nơi.

Lớp lớp người qua kiếp sống tôi đòi,

Vui hạnh-phúc trong niềm vui độc-lập.

 

Một lần nữa nhà thực-dân đổ sập,

Tay trong tay ta bồi đắp lại nhà ta.

Nhà ta xây bằng nhựa sống quốc-gia,

Bằng lý-tưởng Tiên-Rồng, văn-hóa Việt.

 

Nguồn hy-vọng trào dâng trong nhiệt-huyết,

Đem thực tâm xây-dựng cho người dân.

Với tự-do, no ấm, thỏa tinh-thần,

Bằng bánh thật không phải là bánh vẽ.

 

Gần trăm năm đây là mùa đáng kể,

Một mùa mang hy-vọng cho toàn dân.

Hy-vọng này mong mãi được phong thần,

Đừng thất-vọng trong cõi lòng dân-tộc Việt.

 

Dân-tộc Việt muôn muôn năm bất diệt,

Đạo Phật-Đà cũng muôn thuở nơi đây.

Đạo và đời là nhựa sống của một cây,

Cây văn hiến vườn Đại-Nam xanh tốt.

Phượng-Ban, mùa Thu năm Ất-Dậu (1945)

 

Bến-Hải

Hoài-Cảm

 

Đây dấu phân-ly giữa giống nòi,

Đây nguồn sầu tủi biết bao nhiêu.

Bất công! Vô lý! Ai vong bản?

Thầm nhớ hương-quan luống ngậm-ngùi!

Cầu Hiền-Lương một sáng Thu

(4-9-Bính-Thân: 7-10-1956)

 

Khuyến Tu

 

KHÉO khéo bày trò tạo-hóa-công,

An-nguy rồi lại lúc hưng-vong.

Tiểu-nhân thà chịu cơn thường, biến,

Quân-tử đành sao phận đạt, cùng.

Há phải trời kia mà chẳng mắt,

Ví chăng người nọ lại nguôi lòng.

Đã tu, tìm lối tu cho chót,

Tu phải làm gương để tớ trông.

Linh-Quang Nghiệp-Sư

 

Phụng-Họa Nguyên-Vận:

 

Ra nhà phiền-não phải thêm công,

Chí đạo cho bằng niệm-bất-vong.

Biển GIÁC mênh-mông tràn rộng khắp,

Đèn TỪ rạng tỏ chiếu khôn cùng.

Khơi dòng GIỚI ĐỊNH chuyên ba tạng,

Nương cửa TỪ-BI quyết một lòng.

Nhủ bóng BỒ-ĐỀ trong nước tịnh,

Chân-như thực-tế lọ xa trông.

Tâm-Châu

Xuân-Dương, mùa Thu năm 1941

 

Tự Cảm

 

BỐN ba thân đã yếu đi nhiều,

Mắt đã mờ mờ má choắt cheo.

Sương gió khắc sâu vầng trán rộng,

Tim hồng càng rắn trước hoang-liêu.

Mùa lao-lý (tháng8-1963)

 

Nét Tinh Thần

 

MỘT điểm linh-quang bóng lặng tờ,

Lâng-lâng bản-thể vẫn như như.

Hình-thành muôn pháp dù sai biệt,

Sự thật thường hằng khác mộng mơ.

 

Mơ mộng nên chăng chỉ tự người,

Dùng phần thiên-kiến để chia phôi.

Nào đâu thường, đoạn đâu thần-tạo,

Che kín nhân-sinh mấy kiếp, đời.

 

Đời bừng chân-lý tại nơi đây,

Linh-giác xưa nay được tỏ bày.

Sự-vật chuyển trong nhân-quả-luật,

Trước sau đâu có hạn vòng giây.

 

Giây nghiệp lần theo kiếp sống "người",

Hành-vi hay, dở hiện ra thôi.

Vang hòa âm-điệu ngân cao thấp,

Đáy nước trong, mờ bóng nguyệt soi.

 

Soi tỏ đường đi lại lối về,

Đâu miền an-lạc với u-mê.

Tự ta hãy hóa lòng ta đã,

Thành đỉnh trầm hương tỏa bốn bề.

 

Bề thịnh-vượng chung sẽ có ngày,

Gắng tìm hiểu đúng, thực-hành ngay.

Nhận chân giá-trị trên nguồn sống,

Bình-đẳng, từ-bi hưởng trọn đầy.

 

Đầy nguồn sinh-lực giúp nhân-sinh,

Giải-quyết bao nhiêu nỗi bất bình.

Hạnh-phúc tự-do thành thực-tế,

Lợi-sinh, xây-dựng một công trình.

 

Trình-đồ hoằng-pháp khắp xa gần,

Hy-vọng quay về bậc ĐẠI-NHÂN.

Ngọn đuốc tương-lai thường sáng tỏ,

Nơi đây ghi lại nét tinh-thần.

Hà-Nội, ngày 16-12-1953

 

Chuyến

Công Du

 

Vui chuyến công-du thực rỡ ràng,

Gây tình thân-thiện các lân-bang.

Hai vai nặng gánh cho đời, đạo,

Tiến tới thành-công tỏ ĐẠO VÀNG.

10-11-1965

 

Tôi Đi

 

LỜI đồng-vọng của đau thương nhân-loại,

Nét thê-lương của khung-cảnh thiền-môn.

Nguồn lợi tha rạo-rực đáy tâm-hồn,

Theo tiếng gọi. Tôi đi làm sứ-mạng.

 

Tôi đi,

Dệt ánh sáng trên màn đêm dài đằng-đẵng,

Tung nhạc lành cùng điệu gió muôn phương.

Vãi đạo VÀNG trên muôn ngả phố phường,

Làm ấm-dịu những tâm-hồn tê-tái.

 

Bước!

Bước, vẫn bước trên đường dù trở ngại,]

Dù gian-lao, nguy-hiểm có hề chi!

Một lòng chinh trong chính-nghĩa đại-từ-bi,

Đời và đạo thơm danh hồn sử Việt.

Kim-Sơn, mùa Hạ Canh-Dần (1950)

 

Đêm Tới

Colombo

 

VIỆT-Tăng nhẹ gót tới Lăng-Ka,

Bóng lá dừa lay bóng nguyệt tà.

Quạ điểm màn sương ầm sóng biển,

Huyền-môn khoe sắc rợp đường xa.

Đêm 2-5-1966

 

Dấu cũ

Song Lâm

 

LÀN gió nhẹ lướt cành xuân đầm-ấm,

Rừng SONG-LÂM hoa cỏ đón oanh vàng.

Bóng dương-quang xen lẫn ánh linh-quang,

Nét viên-tịch điểm ngang dòng lịch-sử.

 

Trăng đêm ấy nhuộm pha màu vàng úa,

Suốt ven trời cảnh vật phủ màn tang.

Bao trái tim ứ nghẹn nghợp kinh-hoàng,

Đuốc le-lói hòa thiên-hương phảng-phất.

 

Đồng quy-kính quỳ dâng lời chân-thật:

"Mong NHƯ-LAI lưu lại cõi nhân-hoàn,

Sóng mê-tân, khổ-hải vẫn dập-dờn,

Trên bờ GIÁC thưa ảnh hình lui tới!"

 

Sang-sảng tiếng trong rừng đêm cây-cối:

"Hỡi các con, không nhớ những lời TA,

Có sắc-hình hiện giữa chốn Sa-Bà,

Là giả-tạm, hợp-tan chi vướng-bận!

 

Nguồn PHÁP-TÍNH, ấy chính nguồn vô-tận,

Ba-la-đề, giải-thoát gắng tư, tu,

Đuốc GIÁC-MINH tự tỏ lối mê mờ,

Thôi, đã định, lặng im TA từ-biệt!"

 

Giờ đã quyết! Ấy là giờ đã quyết!

Bên KIM-DUNG gieo nặng giọt châu sa,

Áo kim-quan nghi-ngút lửa đàn TRÀ,

Tia XÁ-LỴ đúc hồn thiêng nhuần-thấm.

 

Làn gió nhẹ lướt cành xuân đầm-ấm,

Rừng SONG-LÂM hoa cỏ đón oanh vàng.

Bóng dương-quang xen lẫn ánh linh-quang,

Nét viên-tịch điểm ngang dòng lịch-sử.

 

Và, nơi ấy ngàn năm ghi dấu cũ,

Ánh đạo VÀNG muôn thuở vẫn lưu quang.

Ngày Phật-Tổ nhập Niết-Bàn

rằm tháng hai Nhâm-Thân (1952)

 

Tưởng Niệm

 

DÒNG dõi ASOKA,

Lan truyền đạo Phật-đà,

Muôn ngàn đời quy-ngưỡng,

Hình bóng MAHINDA.

 

Sông núi không ngăn ngại,

Quyết tâm vượt trùng xa,

Từ-quang soi tăm tối,

Sáng danh nghĩa Lăng-Ka.

Ceylon, ngày 13-5-1966

 

Tôi

 

NGỒI buồn nghĩ chán cái thằng tôi,

Năm tháng dùng-dằng cứ thế thôi.

Thúng gạo vô tình theo tập lịch,

Đầu xanh hữu ý điểm màu vôi.

Bao người tri-kỷ còn xa tít,

Mấy kẻ truy-tư đã khuất rồi.

Nước biếc non xanh duyên nợ cũ,

Trùm chăn ngâm vịnh để làm vui.

T.T. Thích-Thái-Hòa chùa Long-Tiên, Hongay

 

ỨNG-HỌA NGUYÊN-VẬN

 

Buồn nghĩ cho nên trách cái tôi,

Quên đi chắc chẳng thấy lôi-thôi.

Sống còn phải sống bền như đá,

Đầu mặc thây đầu trắng tựa vôi.

Tri-kỷ giang-sơn ngay cạnh đó,

Truy-tư công-đức sẵn đây rồi.

Luật chung vũ-trụ riêng ai nhỉ?

Vong-niệm vui đời sẽ thấy vui.

Tâm-Châu

Long-Tiên, ngày 13-11-1953

 

Cảm Hoài

Thái-Hư

 

THIÊN nhiên tán khứ phi lân điểu,

Lạc lạc tương khan tích hiểu minh.

Nhàn hiệp bạch âu vong tuế nguyệt,

Dao quan hồng nhật dục thương minh.

Vô tâm thạch nữ xuân nan động,

Nhập mộng Kim-tiên thụy dục tinh.

Mạc hướng sắc thanh biên thượng mịch,

Tính thiên phong nguyệt bản vô hình.

 

DỊCH:

 

Thương chim bay tản xa vời,

Tiếc sao lác-đác lưng trời sớm mai.

Nhìn lâu âu trắng quên ngày,

Ngắm vầng hồng tắm khỏa đầy biển khơi.

Xuân qua thạch-nữ yên ngồi,

Mộng Kim-tiên giấc ngủ dài tỉnh-tao.

Mặc cho thanh sắc lao-xao,

Gió trăng xưa có hình nào gió trăng?

Tâm-Châu-1957

 

Thời Cảm

 

NHÌN thế-cục lòng thêm xao-xuyến,

Nghĩ nhân-sinh mắt hiện đăm-đăm.

Cành mai lồng bóng Đông-quân,

Thư-trai mượn bút phân-vân mấy vần.

Vườn Giác-thụ thân gần dưới bóng,

Cửa Thiền-Cơ khép đóng vào tay.

Ngạt-ngào hương sạ thơm bay,

Lung-linh đèn tuệ hây-hây gió từ.

Hồi chuông sớm vang khua giấc mộng,

Tiếng mõ trưa rung động trần-tâm.

Kim-ngôn suy gẫm, ca ngâm,

Mưa hoa phơi-phới viên-âm ngọt-nào.

Mùi PHÁP-HỶ lòng-cao nào ví,

Vẻ THIỀN HOAN hổ-tỷ khôn bì.

Bản-lai diện-mục duy-trì,

Luyện rèn từng mấy Tăng-kỳ tới nay.

Chí trượng-phu ra tay cứu thế.

Mong hàm-linh bẻ quế vườn CHÂN.

Nào hay tạo-hóa soay vần,

Xênh-xang kiếp mạt, lần-thần vận sau.

Nhác trông thấy mà đau tấc dạ,

Xót xa lòng ngã ngã nhân nhân,

Đua nhau trong chốn hồng-trần,

Chẳng qua đại-mộng dự phần bao lâu.

Mùi phú-quý thủy-âu, hoa lộ,

Đường vinh-hoa gót rỗ kỳ-khu.

Tấm thân bảy thước hình thù,

Làm nêu cùng, đạt, làm trò thịnh, suy.

Trải nguyệt-lạc, tinh-di mấy độ,

Cúc, sen tàn, đào ngó, mai tươi.

Kém, hơn cũng một trận cười,

Song-song khôn, dại cuộc đời mang đâu?

Hé cửa nọ bóng câu bay vụt,

Cán thoi đưa vi-vút lần qua.

Cảnh thanh riêng đạo Thiền-hòa,

Vui vầy non nước hoan ca đạo Vàng.

Lấy gió mát trăng thanh kết bạn,

Hái hoa Đàm giác-ngạn ngắm chơi.

Cùng trong đất nước bầu trời,

Ân thâm mong trả mới nguôi nguôi lòng.

Đem tinh-hoa ký trong thượng-giới,

Khắp bốn loài ba cõi chiêm nhu.

Chữ rằng: "Pháp-thể biến chu",

Đương cơn biến-cách tâm từ sao yên.

Cờ gặp gió hợp duyên ta phẩy,

Chốn bùn nhơ sen nẩy chồi hương.

Quyết đem giọt nước cành dương,

Rưới tàn lửa loạn thanh-lương sơn hà.

Vung Tuệ-kiếm xông pha rừng núi,

Hé Hàn-quang tỏ lối Lạc-Hồng.

Thái-bình xây đắp non sông,

Gương soi tinh-nhất bóng lồng chấp trung.

Cứu đời, dựng đạo bền lòng.

Phượng-Ban, mùa Đông năm Ất-Dậu (1945)

 

Thời Gian Qua

 

MỘT thoáng qua rồi tiếp tháng sau,

Duyên ta còn ở lại đây lâu.

Bóng gương nhân quả soi đường trước,

Đâu phải nơi đây đến bạc đầu?

Mùa lao-lý (tháng 10-1963)

 

Nhớ Ai

 

BUỒN trông mây quyện phương trời,

Trạnh niềm tưởng nhớ con người xa-xăm.

Cùng trong kiếp sống trăm năm,

Biển trần ngoi, lặn dễ cầm xót thương.

Ánh Chân-Như tỏ mộng-trường,

THÍCH-CA xưa vượt thói thường ra đi.

Lồng trong khí-cốt nam-nhi,

Vui vì lý-tưởng ngại gì gió sương.

Sống vinh-hạnh chết dư-hương,

Lòng cương-quyết gửi muôn phương thấu tình.

Nhớ ai, ta nguyện đạt thành.

Kim-Sơn, mùa Hạ Canh-Dần (1950)

 

Điểu Minh Giản

Vương-Duy

 

NHÂN nhàn quế hoa lạc,

Dạ tĩnh xuân sơn không.

Nguyệt xuất kinh sơn điểu,

Thời minh xuân giản trung.

 

Dịch:

 

Thảnh thơi nhìn quế rụng hoa,

Non xuân trơ bóng canh tà nín hơi.

Trăng loe chim núi rụng rời,

Trong khe xuân thoáng điểm vài tiếng ca.

Tâm-Châu 1958

 

Cõi Lòng Man Mác

Kỷ-niệm ngày tĩnh-dưỡng tại

Long-Hải tháng 9 năm 1956

 

SÓNG ơi gào thét làm chi?

Gió bay tất-tưởi lợi gì cho bay?

Mây kia sao lại đổi thay?

Đá kia sao cứ trơ ngày trơ đêm?

Biến thiên đâu đấy biến thiên,

Tâm CHÂN-NHƯ vẫn một niềm như như.

 

Trắng ngần đợt sóng trùng-dương,

Nhấp-nhô ngọn núi ven tường trời xanh.

Hải-phong nhào lượn quanh mình,

Hồn du-khách đượm cảnh-tình bao la.

 

Biển trời, mây, nước, cá, chim,

Sóng reo, gió hát, đá im im lìm.

Cỏ hoa nháo-nhác xa nhìn,

Người tang-bồng thả trái tim tang-bồng.

 

Giải Thoát

 

Giải-thoát tự ta chẳng tự ai,

An tâm in lại bóng hương đài.

Hương đài soi lại linh-đài cũ,

Thấu-triệt CHÂN-NHƯ chính bổn-hoài.

Xuân Mậu-Tuất (1958)

 

Quyết Tâm

 

CON thuyền Phật-pháp lúc phong-ba,

Gắng sức đồng tâm quyết tới nhà.

Vững lái lướt qua làn sóng vỗ,

Cứng chèo bát khỏi bãi cồn va.

Cánh buồm tế-độ buông lèo trí,

Tia sáng Chân-Như tóe nẻo tà.

Ngàn GIÁC thẳng trông gần-gũi đó,

Ai người tiến trước? Chính là ta!

Hà-Nội ngày Thu Bính-Tuất (1946)

 

Nhìn Cảnh

Kandy

 

NHÌN cảnh Kandy nhớ Tháp Rùa,

Cố-đô ghi dấu mấy triều vua.

Nơi đây Phật-tích tăng tin-tưởng,

Hoàn-Kiếm bao trùm lắm chát-chua!

Hồ Kandy, đêm 12-5-1966

 

Thực Cảnh

 

NIỆM Phật, đứng, ngồi, ngồi lại nằm,

Nhìn không-gian nghĩ chuyện xa xăm.

Tương-lai Phật-giáo ra sao nhỉ?

Gương Lý, Trần xưa rọi tối-tăm.

Mùa lao-lý (tháng 9-1963)

 

Ngẫu Hứng

 

THẢNH-thơi đu võng gió hiu-hiu,

Nhìn bóng trăng sao, lá dập-dìu.

Văng-vẳng tiếng ca hòa tiếng súng,

Thả hồn trong khẩn nguyện tiêu-diêu.

Đêm 30-4-1966

 

Nhớ

 

Nhớ lại hơn năm vắng bóng nhà,

Nhớ làm thao-thức cõi lòng ta.

Nhớ nơi nội cỏ khi hừng sáng,

Nhớ cánh đồng quê lúc xế tà.

Nhớ cảnh trang-nghiêm tu sửa lại,

Nhớ đường chính-đại đắp bồi ra.

Nhớ hàng Phật-tử vui vui đạo,

Nhớ tiếng chuông ngân dịu dịu hòa.

Hà-Nội, tháng 2 năm 1954

 

Con Tầu Xa Bến

 

GIỮA lúc bâng-khuâng với phút này,

Con tầu xa bến quyện làn mây.

Từ-từ rẽ chận trên dòng sóng,

Vun-vút xa nhường lớp bóng cây.

 

Ầm-ầm máy chuyển hướng ra khơi,

Thoăn-thoắt qua đưa chỗ mới rồi.

Cảnh-vật dần lùi về quá-khứ,

Nao-nao lòng khách mộng chơi-vơi.

 

Nước loạn, nhà suy, nghĩ xót xa!

Ai người cương-lĩnh chống đồi-ba!

Nếp xưa gìn-giữ sao nguyên-vẹn,

Cuộc sống bừng tươi cảnh thái-hòa.

 

Ra đi mục-đích để làm chi?

Tìm xét căn-nguyên cái chữ "thì".

Xoay lại cơ-đồ chân-giá-trị,

Lau khô nước mắt của nguồn bi.

 

Nhắn lại vài lời hẹn bến xưa,

Khi về sẽ rưới hạt mây mưa.

Làm tròn sứ-mạng con em Phật,

Vui thưởng hương sen với cảnh chùa.

Trì-Chính, mùa Thu Canh-Dần (1950)

 

Gần Tới

Saigon

 

MƯỜI lăm phút nữa tới Sài-đô,

Tình-thế lung-tung sẽ tính mô?

Hiểu biết, tin thương cùng thông cảm,

Bắt tay xây-dựng lại cơ đồ.

Đường từ Ceylon về nước ngày 29-5-1966

 

 

Phải Tiến

 

NGUỒN Hy-Mã ngàn xưa đang réo-rắt,

Kiếp nhân-sinh đang rên xiết não-nề.

Gương Lý, Trần khơi tỏ lối quay về,

Theo tiếng gọi từ-bi ta phải tiến.

 

Ta vui nở nụ cười trong nguy-biến,

Tung cõi lòng chân-thật tới vô biên.

Lay tỉnh người trong giấc mộng triền-miên,

Hóa mê-muội bằng tinh-thần hiểu biết.

 

Đời thác-loạn do hiệu-năng tà-thuyết,

Kích-động thêm dục-vọng tham, sân, si.

Khắp bốn phương khói lửa ngập sầu bi,

Dân đau khổ, đạo suy-vi dưới vòng đai tranh-chấp.

 

Gây ý-thức quốc-gia, một vấn-đề khẩn-cấp,

Đạo cùng đời đoàn-kết, tiến không lui.

Xây tình thương sắt đá đáy lòng người,

Văn-hóa Việt sáng ngời trên hoàn-vũ.

 

Hàn gắn lại tranh đời đà hoen ố,

Nêu tinh-thần muôn thuở ngát chân-hương,

Nguồn lợi tha tràn ngập mọi nẻo đường,

Cùng hòa nhịp trong an vui, giải-thoát.

Kim-Sơn, mùa Đông năm Kỷ-Sửu (1949)

 

 

Hết

 

 

Nét Tinh Thần in lần thứ nhất 2000 bản, tại nhà in Anh Phương 295, Phạm Ngũ Lão Saigon. Họa sĩ Mai Lân vẽ bìa và phụ bản. KDS 2672/TBTTCH/BC3/XB ngày 30 tháng 08 năm 1967

 

 

 

 

           

 

Comments